2019-12-26 14:10:38 Số lượt xem 1344
THÀNH ỦY BẮC NINH
BAN TUYÊN GIÁO
 œ
 
 
 
 
 
 
 
 
TÀI LIỆU
THÔNG TIN SINH HOẠT CHI BỘ THÁNG 1/2020
(Lưu hành nội bộ)
 
 
 
 
 
                                         
 
 
 
`
 
 
 
 
 
 
Tháng 1 năm 2020
 
MỤC LỤC
Stt
Nội dung
Trang
I
Công tác thông tin tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội
4
1
Những nhiệm vụ trọng tâm tháng 1/2020
4
2
Kết quả phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố năm 2019
5
3

Tăng cường công tác tuyên truyền thực hiện Đề án "Tuyên truyền, phổ biến, GDPL về phòng chống tham nhũng giai đoạn 2019-2021" trên địa bàn thành phố Bắc Ninh

6
II
Văn bản mới ban hành
7
1
Quyết định số 209-QĐ/TW ngày 26/11/2019 của Bộ Chính trị về việc hợp nhất Đảng bộ Ngoài nước với Đảng bộ Bộ Ngoại giao
7
2
Chỉ thị số 40 -CT/TW ngày 10/12/2019 của Ban Bí thư về việc tổ chức Tết năm 2020
7
 
3
Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 04/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên
7
 
4
Chỉ thị số 28/CT-TTg ngày 29/11/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác tiêm chủng
7
 
5
Thông tư số 21/2019/TT-BGDĐT ngày 29/11/2019 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế quản lý bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng tốt nghiệp trung cấp sư phạm, bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, văn bằng giáo dục đại học và chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân
7
 
6
Kế hoạch số 119/KH - UBND ngày 13/12/2019 của UBND Thành phố Bắc Ninh về chỉ đạo, quản lý và tổ chức lễ hội trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh năm 2020.
7
7
Kế hoạch số 06/KH - BCĐLNATTP ngày 13/12/2019 của Ban chỉ đạo liên ngành về an toàn thực phẩm về đảm bảo an toàn thực phẩm trong dịp Tết Nguyên đán Canh Tý và mùa Lễ hội Xuân năm 2020.
8
III
Kết quả nổi bật về công tác xây dựng Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể; thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của một số cơ quan, đơn vị
8
1
Công tác xây dựng Đảng
8
2
MTTQ và các đoàn thể Thành phố
8
IV
Đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống:
9
1
Phát huy lợi thế dân số vàng trước khi quá muộn
9
2
Mô hình điển hình trong việc đưa Nghị quyết vào cuộc sống: Hòa Long xây dựng đời sống văn hóa
12
V
Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh: Khai thác và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên theo tư tưởng Hồ Chí Minh
13
VI
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng: Xây dựng “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
15
       
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
        I- Công tác thông tin tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội
        1-Những nhiệm vụ trọng tâm tháng 1/2020
- Triển khai thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW về Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” chuyên đề năm 2020   với nội dung “Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh” gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng; Nghị quyết 04-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về “tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, truyền thống văn hóa cho thế hệ trẻ tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2016-2020”; tuyên truyền kết quảthực hiện công tác xây dựng Đảng, chính quyền, hoạt động của MTTQ và các đoàn thể năm 2019, nhiệm vụ năm 2020; công tác cải cách hành chính; MTTQ và các đoàn thể nhân dân tham gia thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH, xây dựng tổ chức đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh.
- Tuyên truyền về việc tổ chức Đại hội Đảng các cấp hướng tới Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XXII, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII theo Kế hoạch số 11-KH/BTG ngày 25/12/2019 của Ban Tuyên giáo Thành ủy. Đối với các chi bộ đã tiến hành Đại hội, tập trung tuyên truyền kết quả Đại hội chi bộ, thông qua chương trình hành động và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội. Các chi bộ chưa tiến hành Đại hội làm tốt công tác chuẩn bị Đại hội.
- Tuyên truyền kỷ niệm 90 năm thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (3/2/1930 – 3/2/2020) đến cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; khẳng định vai trò, uy tín, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong suốt chặng đường cách mạng Việt Nam 90 năm qua; khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trung thành vô hạn với lợi ích của quốc gia, dân tộc và giai cấp, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Đẩy mạnh tuyên truyền việc thực hiện các quy định của Tỉnh, Thành phố về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, tân gia, mừng thọ,… Chỉ đạo thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, tặng quà, chi trả chế độ đối với các gia đình chính sách trong dịp Tết nguyên đán.
- Tăng cường chỉ đạo công tác đảm bảo an ninh trật tự, phòng chống tệ nạn xã hội. Thực hiện tốt công tác phòng chống cháy nổ và vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo đón Tết Nguyên đán và các Lễ hội đầu xuân vui tươi, lành mạnh, an toàn.
- Các chi bộ trường học chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ năm học theo khung thời gian chương trình quy định; lưu ý đảm bảo an ninh, an toàn trường học trong dịp Tết Nguyên đán.
- Các chi bộ y tế chỉ đạo nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh phục vụ nhân dân, tăng cường công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn trong dịp Tết Nguyên đán.
- Tiếp tục tuyên truyền đảm bảo vệ sinh môi trường, vận động nhân dân tham gia tổng vệ sinh môi trường, nhất là tại các điểm có nguy cơ gây ô nhiễm nhiều. Tăng cường kiểm tra, xử lý các cơ sở kinh doanh gây ô nhiễm môi trường trong khu dân cư. Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh, du lịch, các hoạt động lễ hội, văn hóa, thể thao.
- Tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là trong công tác giải phóng mặt bằng triển khai các dự án, đặc biệt là các dự án trong tâm, trọng điểm của tỉnh và Thành phố chào mừng Đại hội Đảng các cấp (các công trình thuộc khu trung tâm TDTT Tỉnh, trung tâm văn hóa thể thao các xã, phường, …), các dự án đấu giá quyền sử dụng đất.
- Các chi bộ nông thôn tập trung chỉ đạo thu hoạch vụ đông, triển khai sản xuất vụ xuân năm 2020.
- Tuyên truyền các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ, các sự kiện chính trị diễn ra trong tháng 01/2020. Trong đó, tập trung tuyên truyền kỷ niệm 52 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, 60 năm phong trào Đồng khởi và ngày Bến Tre Đồng khởi (17/01/1960 – 17/1/2020).
- Nắm bắt tình hình dư luận xã hội, định hướng tư tưởng theo quan điểm, chủ trương của Đảng đồng thời triển khai các nhiệm vụ cụ thể của địa phương, đơn vị.
        2- Kết quả phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố năm 2019:
            -Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) trên địa bàn đạt 10%. Tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn ước đạt 34.419,4 tỷ đồng (vượt 13,7% kế hoạch năm).
- Cơ cấu kinh tế: Khu vực dịch vụ chiếm 53,7% (tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2018); khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 45,4% (giảm 0,6% so với cùng kỳ năm 2018); khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản còn 0,9% (giảm 0,1% so với cùng kỳ năm 2018).
-Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 32.650tỷ đồng (vượt 10,2% kế hoạch năm), tăng 15,7% so cùng kỳ năm 2018.
-Giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng ước đạt 119.060,1 tỷ đồng, (vượt 3,3% kế hoạch năm), tăng 9,8% so với cùng kỳ năm 2018.
- Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản đạt 646,6 tỷ đồng (đạt 96,5% kế hoạch năm)giảm 4,6% so với cùng kỳ năm 2018.
- Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố cả năm 2019 ước thực hiện đạt 5.406 tỷ đồng (đạt 118% dự toán, tăng 9% so với năm 2018()). Ước thu ngân sách thành phố cả năm đạt 3.250,2 tỷ đồng (đạt 208% dự toán, tăng 23% so với năm 2018). Ước chi ngân sách trên địa bàn thành phố năm 2019 là 2.374,1 tỷ (đạt 152% dự toán, tăng10,1% so với năm 2018)().
- Triển khai các giải pháp tăng cường công tác quản lý đô thị, đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn.
- Hoàn thành việc duyệt danh sách và giao đất cho 1.393 lô đất DCDV tại 07 dự án, giải phóng mặt bằng và triển khai thi công hạ tầng các dự án đất dân cư dịch vụ.
- Giữ vững giáo dục là đơn vị lá cờ đầu của tỉnh. Đẩy mạnh phong trào dạy và học tiếng Anh. Tăng cường quản lý các khoản thu ngoài ngân sách của các trường học.Tăng cường công tác thanh tra việc dạy thêm học thêm cả trong và ngoài nhà trường, dần chấm dứt việc dạy thêm, học thêm sai quy định.
-  Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 0,8%. Tạo việc làm cho khoảng 5.500 lao động (vượt 10% kế hoạch năm 2019).
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên duy trì ở mức 1%. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm còn 5,5%.
- Triển khai các giải pháp tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và đảm bảo an toàn thực phẩm trên địa bàn. Tập trung chợ Đọ và các bếp ăn tập thể trường học.
- Thực hiện tốt công tác quốc phòng toàn dân, hoàn thành chỉ tiêu tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ; giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả các loại tội phạm và tệ nạn xã hội.
- Thành lập và đi vào hoạt động 03 phường Hòa Long, Nam Sơn, Kim Chân từ 01/12/2019.
- Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 10/9/2013 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phương hướng, nhiệm vụ phát triển thành phố Bắc Ninh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
- Xếp thứ nhất về “mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ công tại Trung tâm Hành chính công cấp tỉnh và cấp huyện năm 2019”. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, dịch vụ công trực tuyến, cải cách thủ tục hành chính, kỷ cương kỷ luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền.

          3- Tăng cường công tác tuyên truyền thực hiện Đề án "Tuyên truyền, phổ biến, GDPL về phòng chống tham nhũng giai đoạn 2019-2021" trên địa bàn thành phố Bắc Ninh

          Ngày 13/10/2019, UBND Thành phố ban hành kế hoạch số 100/KH - UBND thực hiện Đề án "Tuyên truyền, phổ biến, GDPL về phòng chống tham nhũng giai đoạn 2019-2021" trên địa bàn thành phố Bắc Ninh. Kế hoạchcủa UBND Thành phố yêu cầu:Tuyên truyền pháp luật về PCTN phải bám sát chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về PCTN. Phổ biến kịp thời, đầy đủ những nội dung của Luật PCTN năm 2018; việc phổ biến, giáo dục pháp luật về PCTN phải thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, tập trung triển khai sâu rộng bằng các hình thức, biện pháp thiết thực hiệu quả, phù hợp với từng đối tượng và phải được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục và đồng bộ nhằm giúp cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và nhân dân hiểu biết và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật; bảo đảm tính khả thi, kế thừa và phát triển các kết quả, mô hình, kinh nghiệm tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về PCTN; đồng bộ, thống nhất và phối hợp với các chương trình, hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật về PCTN nói riêng. Kế hoạch đề ra các mục tiêu cụ thể như sau:
          1. Đến hết năm 2021, 100% chương trình đào tạo thuộc các loại hình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng có nội dung về chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng, đạo đức liêm chính.
          2. Hàng năm, 100% báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật; giáo viên, giảng viên các môn pháp luật, giáo dục công dân được tập huấn, bồi dưỡng cập nhật chính sách, pháp luật về PCTN.
          3. Hàng năm, 100% cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về PCTN dưới các hình thức.
          4. Đến hết năm 2019 có 90%, đến hết năm 2021 có 100% lãnh đạo doanh nghiệp, Hiệp hội doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về PCTN.
          5. Đến hết năm 2019 có 85%, đến hết năm 2021 có 100% người lao động tại các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về PCTN.
          6. Đến hết năm 2019 có 75%, đến hết năm 2021 có 90% người lao độngtại doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh được tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về PCTN.
          7.Đến hết năm 2019 có 60 đến 70%, đến hết năm 2021 có 70 đến85% người dân nông thôn, tiểu thương, lao động tự do được tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về PCTN.
          8. Hình thành văn hóa minh bạch, giải trình của cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi công vụ, nhận thức rõ hành vi đưa, nhận, môi giới hối lộ là vi phạm pháp luật và trái đạo đức, lương tâm, trách nhiệm cần lên án mạnh mẽ để xay dựng mối quan hệ lành mạnh giữa cán bộ, công chức, viên chức với người dân, cũng cố vững chắc đạo đức, hành vi chuẩn mực của cán bộ, công chức, viên chức và người dân.

        II- Văn bản mới ban hành

        1.Chỉ thị số 40 -CT/TW ngày 10/12/2019 của Ban Bí thư về việc tổ chức Tết năm 2020
        2. Quyết định số 209-QĐ/TW ngày 26/11/2019 của Bộ Chính trị về việc hợp nhất Đảng bộ Ngoài nước với Đảng bộ Bộ Ngoại giao
        3. Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 04/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên
        4. Chỉ thị số 28/CT-TTg ngày 29/11/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác tiêm chủng
        5.Thông tư số 21/2019/TT-BGDĐT ngày 29/11/2019 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế quản lý bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng tốt nghiệp trung cấp sư phạm, bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, văn bằng giáo dục đại học và chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân
        6.Kế hoạch số 119/KH - UBND ngày 13/12/2019 của UBND Thành phố Bắc Ninh về chỉ đạo, quản lý và tổ chức lễ hội trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh năm 2020.
        7. Kế hoạch số 06/KH - BCĐLNATTP ngày 13/12/2019 của Ban chỉ đạo liên ngành về an toàn thực phẩm về đảm bảo an toàn thực phẩm trong dịp Tết Nguyên đán Canh Tý và mùa Lễ hội Xuân năm 2020.
          III- Kết quả nổi bật về công tác xây dụng Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể; thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của một số cơ quan, đơn vị
        1- Công tác xây dựng Đảng
Các Ban xây dựng Đảng, Văn phòng Thành ủy, Trung tâm BDCT Thành phố tập trung triển khai một số nội dung trọng tâm sau: Tổ chức nghiên cứu, học tập chuyên đề “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” năm 2020 với nội dung “Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”; tuyên truyền kết quả phát triển kinh tế - xã hội của thành phố; chủ đề công tác năm 2019, 05 quyết tâm chính trị, Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 20/9/2019 của BTV Thành ủy…Biên tập và xuất bản Bản tin thành phố, duy trì hoạt động của Trang thông tin điện tử Thành ủy. Duy trì tổ chức Lễ chào cờ vào tuần đầu tiên hàng tháng, đến nay đã có 22 chi, đảng bộ tổ chức Lễ Chào cờ. Chỉ đạo các đơn vị, địa phương tiếp tục bổ sung, tái bản lịch sử Đảng bộ. Tham mưu giúp Ban Thường vụ Thành ủy về công tác cán bộ và chế độ chính sách đối với cán bộ; kết nạp Đảng, chuyển đảng chính thức đối với đảng viên dự bị; đánh giá, xếp loại, khen thưởng các tổ chức cơ sở đảng năm 2019; chỉ đạo các chi, đảng bộ trực thuộc làm tốt công tác tổ chức Đại hội nhiệm kỳ 2020 - 2025....Ban hành quyết định, kế hoạch kiểm tra; xem xét giải quyết theo thẩm quyền và chuyển các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết.Tiếp tục triển khai thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết về công tác Dân vận, đồng thời tổ chức việc sơ, tổng kết định kỳ theo quy định;tiếp tục hướng dẫn đẩy mạnh việc triển khai Chương trình “10 phút góp phần làm sạch thành phố”. Chuẩn bị tốt các điều kiện tổ chức các Hội nghị; chỉ đạo triển khai thực hiện Quy định số 11-QĐi/TW về công tác tiếp dân và xây dựng lịch tiếp dân của các đồng chí Thường trực Thành ủy theo quy định. Thực hiện nghiêm túc chế độ gửi nhận văn bản trên mạng thông tin diện rộng, xử lý phát hành các văn bản chỉ đạo của cấp ủy kịp thời, đúng quy định. Tiếp nhận và xử lý   kịp thời công văn đến, phát hành văn bản đi của cấp ủy, đảm bảo đúng thể thức, hạn chế sai sót.Tổ chức mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn theo kế hoạch. Tổ chức Hội nghị thông tin thời sự; cấp phát Bản tin sinh hoạt chi bộ, cuốn tài liệu tham khảo dành cho báo cáo viên.
        2-MTTQ và các đoàn thể Thành phố
                *Sáng 27/11, Hội CCB thành phố Bắc Ninh trọng thể tổ chức Lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Hội CCB Việt Nam (6/12/1989 – 6/12/2019).
          Trải qua 30 năm xây dựng và trưởng thành, Hội CCB Việt Nam luôn giữ vững bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định theo con đường mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn.
          Cùng với sự lớn mạnh của Hội CCB Việt Nam, suốt chặng đường xây dựng và phát triển, Hội Cựu chiến binh thành phố đã khẳng định vai trò, vị trí của mình, tích cực đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, đảm bảo chính trị, tư tưởng đội ngũ cán bộ, hội viên. Các thế hệ cựu chiến binh thành phố tiếp tục giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ", cùng nhau đoàn kết, nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, khẳng định vị thế của một tổ chức chính trị - xã hội, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng bộ, chính quyền và niềm tin yêu của nhân dân thành phố.
          Hiện nay, Hội CCB thành phố có 25 cơ sở Hội trực thuộc, 114 chi hội và gần 9.000 Hội viên. Trong những năm qua, các cấp Hội đã tích cực tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, các hiện tượng tiêu cực và tệ nạn xã hội; chủ động ngăn chặn, đấu tranh với những quan điểm sai trái, phản động, những âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Tích cực vận động cựu chiến binh phát huy tinh thần tự lực, tự cường, dám nghĩ, dám làm, sáng tạo trong lao động, sản xuất, đẩy mạnh việc giúp nhau làm kinh tế, nâng cao đời sống, vươn lên làm giàu. Đến nay, tỷ lệ hội viên CCB khá giàu đạt 67%, hộ nghèo giảm còn 0,26%.
          Các cấp Hội tổ chức triển khai và hưởng ứng nhiều cuộc vận động, phong trào với nội dung, hình thức phong phú, hiệu quả, như: Cuộc vận động "Vì thành phố Bắc Ninh sạch""Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh"; các hoạt động "Đền ơn, đáp nghĩa", phong trào phòng, chống tội phạm, ma túy và tệ nạn xã hội; bảo vệ môi trường... Đồng thời, phối hợp với Đoàn thanh niên tích cực tham gia giáo dục, bồi dưỡng truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và xây dựng lý tưởng, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ thành phố. Qua tổng kết hằng năm, Hội CCB thành phố luôn đạt “Trong sạch vững mạnh”, 98% Hội viên đạt CCB gương mẫu, 97 % gia đình CCB đạt tiêu chuẩn “Gia đình văn hóa”.
          Với những thành tích đạt được trong chặng đường 30 năm xây dựng và trưởng thành, các cấp Hội cựu chiến binh thành phố đã vinh dự được Đảng, Nhà nước và Trung ương Hội cựu chiến binh Việt Nam tặng thưởng nhiều Bằng khen, Huân Chương, cờ thi đua. Những cố gắng và kết quả đó đã đóng góp tích cực để thành phố Bắc Ninh có những bước chuyển mình mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, nâng tầm vị thế trở thành 1 trong 17 đô thị loại I trực thuộc tỉnh của cả nước.
          Nhân dịp này, Chủ tịch UBND thành phố tặng Giấy khen cho 6 tập thể, 6 cá nhân; Hội CCB thành phố khen thưởng 2 tập thể, 3 cá nhân có thành tích tiêu biểu nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Hội CCB Việt Nam./.
  IV- Đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống:
          1. Phát huy lợi thế dân số vàng trước khi quá muộn
            Việt Nam đang ở trong giai đoạn cơ cấu “dân số vàng” khi có 69% dân số trong tuổi lao động. Đây được xem là cơ hội thuận lợi để nâng cao hiệu quả lao động, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế cho đất nước. Để phát huy được tối đa thế mạnh này, Nghị quyết số 21-NQ/TW về Công tác dân số trong tình hình mới của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII nhấn mạnh: Phát huy tối đa lợi thế cơ cấu “dân số vàng”, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển đất nước nhanh, bền vững.
          THẾ MẠNH TO LỚN CỦA LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG HÙNG HẬU
          Ðặc điểm nổi bật trong thời kỳ "cơ cấu vàng" là dân số có khả năng lao động (từ 15 - 64 tuổi) chiếm tỷ lệ cao, hiện nay chiếm khoảng 69% tổng dân số. Đây là thời kỳ mang lại cơ hội lớn để nâng cao chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực - yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước.
          Bắt đầu từ năm 2007, với tỷ số phụ thuộc chung (nhóm dân số 0-14 tuổi và nhóm dân số trên 65 tuổi tính trên nhóm dân số 15-64) dưới 50%, Việt Nam chính thức bước vào thời kỳ cơ cấu "dân số vàng". Theo các nhà nhân khẩu học, cơ cấu "dân số vàng" thường kéo dài từ 30 - 35 năm, thậm chí là 40 -50 năm. Điều đó đồng nghĩa với chừng ấy thời gian đất nước có được lực lượng lao động trẻ hùng hậu, đủ sức làm xoay chuyển nền kinh tế đất nước nếu chúng ta biết khai thác tối đa nguồn tài nguyên quí giá này. Nhiều quốc gia châu Á đã biết tận dụng triệt để cơ hội "dân số vàng" để tạo nên những kỳ tích trong phát triển kinh tế, đóng góp khoảng 1/3 vào tăng trưởng như Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc. Riêng Trung Quốc, cơ hội này đã mang lại 15% tăng trưởng kinh tế trong hơn 20 năm qua.
          Thời kỳ cơ cấu "dân số vàng" là một cơ hội hiếm hoi và đây chính là cơ hội để Việt Nam cất cánh như một số nước trong khu vực đã nói trên. Theo các chuyên gia, Việt Nam cần chớp lấy thời cơ "dân số vàng" để cải thiện năng suất lao động, vì cơ hội này sẽ không quay trở lại.
          Với tổng số dân là hơn 96 triệu người, hiện nay số người trong độ tuổi lao động ở nước ta đã trên 66 triệu người. Theo GS Nguyễn Đình Cử, nguyên Viện trưởng Viện Dân số và Các vấn đề xã hội (ĐH Kinh tế Quốc dân), đây là dư lợi lớn của "dân số vàng" cho tăng trưởng kinh tế. Hơn nữa, với khoảng một nửa dân số trong độ tuổi lao động dưới 34 tuổi, thuận lợi cho việc tiếp thu khoa học, kỹ thuật và linh hoạt trong chuyển đổi nghề. Mỗi năm, nước ta có từ 1,5 - 1,6 triệu người bước vào độ tuổi lao động, tuy nhiên lực lượng này vẫn chưa tạo nên sức bật cho nền kinh tế, vì có trên 70% là lao động giản đơn. Sự thiếu hụt trầm trọng lao động kỹ thuật trình độ cao và lao động dịch vụ cao cấp trong các ngành thương mại, tài chính, ngân hàng, du lịch... là những thách thức không nhỏ đặt ra cho giai đoạn cơ cấu "dân số vàng".
          CHỚP LẤY THỜI CƠ, ỨNG PHÓ VỚI THÁCH THỨC
          Một thực tế là phần lớn những người học càng cao thì cơ hội có được việc làm tương xứng lại càng khó, nhiều sinh viên đại học ra trường 2-3 năm nhưng vẫn chưa thể kiếm được việc làm.
          Theo thống kê trong 3 quý năm 2015 của Viện Khoa học Lao động và Xã hội, có thể thấy một điều rất lạ là người có bằng cấp càng cao thì nguy cơ thất nghiệp càng lớn. Trong khi đó, người không có bằng cấp lại có tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn. PGS.TS Giang Thanh Long, Viện trưởng Viện Chính sách công và quản lý (ĐH Kinh tế Quốc dân) đã chỉ rõ: "Việt Nam chỉ có thể có "dư lợi" dân số tới năm 2018, nếu năng suất lao động không thay đổi". Theo PGS.TS Giang Thanh Long, với xu hướng già hóa dân số ngày càng nhanh trong tương lai, thâm hụt của nhóm cao tuổi ngày càng tăng thì thách thức chính sách đảm bảo an sinh xã hội là không nhỏ.
          "Nếu giả định cơ cấu thu nhập từ lao động và tiêu dùng bình quân đầu người theo từng độ tuổi của năm 2012 được giữ nguyên và năng suất lao động không thay đổi, thì biến đổi cơ cấu tuổi dân số chỉ có tác động tích cực tới tỷ số hỗ trợ kinh tế tới năm 2018. Nói cách khác, Việt Nam chỉ có "dư lợi dân số" tới năm 2018", PGS.TS Giang Thanh Long nói. Cũng theo phân tích của ông, cơ hội chuyển thành "dư lợi dân số" chỉ còn vài năm nữa, nếu không thay đổi năng suất lao động thì "dư lợi dân số" đang dương trở về 0 vào năm 2018, sau đó sẽ là số âm.
          Theo kết quả Điều tra lao động việc làm của Tổng cục Thống kê, số giờ làm việc trung bình mỗi tuần của một lao động đang làm việc ở Việt Nam đã giảm dần từ 45,6 giờ trong năm 2011 xuống 45,3 giờ năm 2018. Năng suất lao động trên mỗi giờ làm việc của Việt Nam năm 2018 theo giá hiện hành đạt 43,4 nghìn đồng, cao hơn 3,5 nghìn đồng so với năm 2017. Tính theo sức mua tương đương (PPP 2011), NSLĐ mỗi giờ làm việc của Việt Nam đạt khá thấp so với một số nước trong khu vực ASEAN, năm 2015 chỉ đạt 4,4 USD, trong khi đó Malaysia đạt 24,9 USD; Thái Lan đạt 12,1 USD; Indonesia đạt 12 USD; Philippines đạt 8,4 USD. Riêng Singapore đạt mức NSLĐ theo giờ rất cao với 54,9 USD.
          Để tránh nguy cơ tụt hậu và vượt qua bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam cần tập trung chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, chất lượng và hiệu quả, trong đó trọng tâm là cải thiện năng suất lao động để tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong tương lai.
          CƠ CẤU "DÂN SỐ VÀNG", NẾU KHÔNG KHAI THÁC THÌ SẼ HẾT
          Thực tế, cơ hội "dân số vàng" không tự động mang lại tác động tích cực mà nó phải được "giành lấy" để "đẻ" ra lực lượng lao động vàng, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.
          Nếu giai đoạn "dân số vàng" diễn ra trùng với thời kỳ kinh tế ổn định, hệ thống giáo dục đảm đương tốt việc cung cấp tri thức, kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động thì sẽ trở thành động lực mạnh của nền kinh tế. Ngược lại, nếu cơ hội không được chớp lấy thì đất nước phải đối mặt với những thách thức mới. Mà trước tiên là lực lượng đông đảo trong độ tuổi lao động thiếu việc làm, người thất nghiệp dễ mắc tệ nạn xã hội, trở thành gánh nặng cản trở sự phát triển của đất nước. Như vậy, "dân số vàng" sẽ không có giá trị nếu không thực sự "vàng" về tri thức và tay nghề.
          Theo GS Nguyễn Đình Cử, để đưa đất nước đi lên, phát triển bền vững, tránh được "bẫy thu nhập trung bình" và đương đầu được với thách thức "dân số siêu già" của thời kỳ "hậu dân số vàng", cần tận dụng những vận hội do cơ cấu "dân số vàng" mang lại, thông qua đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra và tìm kiếm nhiều việc làm có thu nhập cao, cả ở trong và ngoài nước, hạn chế tiêu dùng xa xỉ để nâng cao tiết kiệm, thúc đẩy đầu tư. "Mỏ vàng không khai thác thì còn, cơ cấu "dân số vàng" nếu không khai thác thì sẽ hết. Bởi vậy, nhận rõ, nắm bắt và tận dụng cơ hội này càng sớm càng tốt, không chỉ là nhiệm vụ của các nhà lãnh đạo, quản lý mà còn là của    mỗi người dân", GS Nguyễn Đình Cử nhấn mạnh.
          CƠ HỘI CÓ MỘT KHÔNG HAI
          Các chuyên gia cho rằng, thời kỳ "dân số vàng" là cơ hội có một không hai dành cho Việt Nam. Do đó đầu tư cho thế hệ trẻ về giáo dục, y tế, sức khỏe sinh sản có ý nghĩa quan trọng đối với năng suất lao động và sự phát triển của Việt Nam trong tương lai. Việt Nam cần có kế hoạch tận dụng cơ hội "dân số vàng" và ứng phó với những thách thức của giai đoạn già hóa hiện nay trước khi quá muộn…
          Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, đây là vấn đề rất phức tạp, đòi hỏi có cái nhìn tổng thể, không bó hẹp trong lĩnh vực dân số mà liên quan đến mọi ngành như: Giáo dục, y tế, văn hóa, lao động, việc làm, văn hóa, đoàn thanh niên, công đoàn… Nếu không tận dụng được cơ cấu "dân số vàng", Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn khi tỷ số phụ thuộc chung lại có xu hướng tăng với tác động chủ yếu từ sự gia tăng tỷ số phụ thuộc người già.
          Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng: "Cơ hội "dân số vàng" đặt ra không ít thách thức. Trong vòng 20 – 30 năm nữa, tận dụng cơ hội "dân số vàng" để tăng năng suất lao động là vô cùng quan trọng. Điều này không thể chờ đợi được nữa, nếu như chúng ta không muốn già trước khi giàu, thậm chí già mà vẫn nghèo". Chuyên gia này cũng chỉ rõ, cần đẩy mạnh công tác thông tin và dự báo cung - cầu nhân lực theo nghề, ngành đào tạo trong các ngành kinh tế. Bên cạnh đó, chú trọng xây dựng đồng bộ và hoàn thiện hệ thống các chính sách sử dụng lao động từ tuyển dụng, sử dụng, tiền lương, thăng tiến… lấy hiệu quả làm việc là tiêu chí ưu tiên hàng đầu trong sử dụng và đãi ngộ lao động. Việc dự báo nhu cầu nhân lực ở cấp độ này phải có tầm nhìn ít nhất 10 năm và điều chỉnh ít nhất là 5 năm/lần.
          2- Mô hình điển hình trong việc đưa Nghị quyết vào cuộc sống:
          Hòa Long xây dựng đời sống văn hóa
          Phường Hòa Long, thành phố Bắc Ninh rộng gần 900 ha với hơn 12 nghìn nhân khẩu. Những năm qua, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” luôn được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng tham gia tích cực, góp phần củng cố chính quyền vững mạnh, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
          Từ nhận thức đúng đắn, sâu sắc nhiệm vụ, ý nghĩa của phong trào xây dựng đời sống văn hóa, các cấp ủy Đảng, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể địa phương thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, vận động. Năm 2018, Hòa Long tổ chức tuyên truyền 235 lượt về phong trào trên hệ thống đài truyền thanh, treo gần 300 băng rôn, khẩu hiệu tuyên truyền trực quan, 7/7 làng tổ chức sân khấu giao lưu Quan họ đầu xuân để tuyên truyền, quảng bá giá trị văn hóa truyền thống quý báu của quê hương. Bình xét gia đình văn hóa năm 2018 có 2686/2802 hộ đăng ký đạt danh hiệu Gia đình văn hóa, chiếm tỷ lệ gần 96%, trong đó, gia đình ông Nguyễn Quốc Chẩn thôn Hữu Chấp được đề nghị thành phố khen thưởng.
          Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, tang, lễ hội được người dân tự giác thực hiện với chuyển biến tích cực, phát huy truyền thống tốt đẹp của làng xóm, quê hương. Việc cưới tổ chức vui tươi, tiết kiệm. Các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, lãng phí rườm rà trong việc tang dần được xóa bỏ. Hầu hết đám cưới, đám tang đều thực hiện nghiêm quy định của Nhà nước và quy chế, hương ước của thôn làng, bảo đảm văn minh, tiết kiệm. Ý thức người dân và du khách khi tổ chức, tham gia lễ hội đều bảo đảm lành mạnh, văn minh, góp phần giáo dục truyền thống văn hóa và đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng tâm linh cũng như sinh hoạt văn hóa tinh thần trong nhân dân. Phong trào TDTT quần chúng được duy trì và phát triển rộng khắp, thu hút mọi đối tượng, lứa tuổi tham gia. Các CLB TDTT duy trì luyện tập đều đặn như: Dưỡng sinh, bóng đá, bóng bàn, cầu lông, đi bộ… thiết thực nâng cao sức khỏe cho mọi người, xây dựng phong trào sống vui, khỏe, có ích và đưa các phong trào thi đua lao động, sản xuất trên địa bàn xã ngày càng phát triển.
          Sự nghiệp giáo dục, y tế luôn được quan tâm chăm lo. Hệ thống thiết chế văn hóa thể thao từng bước được quan tâm đầu tư, sửa chữa. Các công trình tín ngưỡng, tôn giáo như: Đình, Đền, Chùa được toàn dân chăm lo, tôn tạo, phục vụ nhu cầu sinh hoạt tâm linh. Môi trường cảnh quan làng xã bảo đảm xanh, sạch, đẹp. Đặc biệt, Hòa Long là vùng đất cổ, có đền thờ Thủy tổ Quan họ và lưu giữ nhiều loại hình sinh hoạt văn hóa truyền thống, các trò chơi dân gian như đu tiên, đấu vật, kéo co… vẫn thường xuyên được thực hành, tổ chức biểu diễn trong các lễ hội, góp phần bảo tồn, phát triển nền văn hóa đậm đà bản sắc quê hương Bắc Ninh-Kinh Bắc.
          Phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể và sự ủng hộ của nhân dân,  xã Hòa Long tiếp tục tuyên truyền nâng cao chất lượng, đưa phong trào ngày càng lan tỏa sâu rộng, đồng đều, thực chất và bền vững. Tập trung xây dựng môi trường văn hóa, tư tưởng, đạo đức lối sống lành mạnh, giữ gìn phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, xây dựng thiết chế văn hóa giúp nâng cao đời sống tinh thần trong nhân dân.
          Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa có tác động sâu sắc, làm đổi mới toàn diện đời sống nhân dân Hòa Long. Dù kinh tế phát triển nhưng không gian cảnh quan, hình thái của những ngôi làng cổ với nhiều nét đẹp văn hóa truyền thống quý báu vẫn được người dân Hòa Long trân trọng gìn giữ và phát huy, xứng đáng là một vùng đất ngoại thành giàu truyền thống lịch sử, văn hiến tiêu biểu của đô thị trung tâm thành phố Bắc Ninh.
          V-Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh:
          Khai thác và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên theo tư tưởng Hồ Chí Minh
          Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của dân tộc Việt Nam. Trong đó có những chỉ dẫn của Người về bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên, nhất là việc khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên.
          Khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả các yếu tố cơ bản của môi trường tự nhiên như đất đai, nguồn nước, khoáng sản, rừng… là một trong những nội dung quan trọng nhằm bảo vệ môi trường. Con người không thể sống thiếu nước, ánh sáng, không khí và đất đai. Khi những thứ này thiếu hụt sẽ đe dọa đến sự sống còn và phát triển của con người. Chính vì vậy, phải khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả các yếu tố của môi trường tự nhiên là để góp phần bảo vệ môi trường sống của con người. Với tầm nhìn xa trông rộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm về khai thác và sử dụng tài nguyên ngay từ khi nhân dân ta bắt tay vào khôi phục và xây dựng đất nước. Cụ thể:
          Một là, khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên rừng
          Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, khai thác và sử dụng tài nguyên phải có kế hoạch, phải phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và phải gắn liền với bảo vệ môi trường. Khai thác gắn với bảo vệ chứ không phải đánh đổi và bất chấp bằng mọi giá. Trong Lời kêu gọi đồng bào, nhân dân thi đua sản xuất và tiết kiệm năm 1965, Ng­ười khuyên mọi người: “Khai thác gỗ đi đôi với tu bổ và bảo vệ rừng; chú ý trồng cây, gây rừng ở bờ biển”. Người xem bảo vệ rừng là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng như việc bảo vệ nhà cửa, ruộng vườn của mình vậy; Ng­ười nhắc nhở cán bộ phải lo bảo vệ rừng, phải khéo vận động nhân dân trong việc khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên rừng. Người luôn tranh thủ mọi lúc, mọi nơi để kêu gọi mọi ngư­ời khai thác rừng phải luôn có kế hoạch bảo vệ và tu bổ rừng, làm cho rừng ngày càng phát triển rộng lớn hơn, môi trường sẽ trong lành hơn. Đối với Ngư­ời, rừng là “vàng” của quốc gia nên “đồng bào cần phải cố gắng hoàn thành tốt kế hoạch đã định, đồng thời phải chú ý bảo vệ rừng… Tục ngữ nói: “Rừng vàng, biển bạc”. Chúng ta chớ lãng phí vàng, mà phải bảo vệ vàng của chúng ta ”.
          Hai là, khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên khoáng sản
          Tài nguyên khoáng sản, trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng, phát triển đất nước. Nhưng để kinh tế phát triển lâu dài, Người luôn nhắc nhở nhân dân khai thác sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên này. Trong buổi nói chuyện với các đại biểu công nhân và cán bộ Ngành Than, Người cũng đã đề cao giá trị của tài nguyên thiên nhiên: “Người ta thường gọi than là “vàng đen”. Nó rất cần thiết cho công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, vận tải, quốc phòng và đời sống nhân dân” (3). Nhưng Người luôn xác định cần tới mức nào, giá trị tới mức nào cũng phải khai thác có kế hoạch, làm theo kế hoạch. Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây dựng đất nước theo con đường chủ nghĩa xã hội cần rất nhiều than. Mục đích của đất nước là sản xuất thật nhiều than nhưng cần phải thống nhất, phải đúng mục đích, phải tổ chức và quản lý thật tốt, không để khai thác tự phát, vừa không kiểm soát được, vừa ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên.
          Ba là, khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong sản xuất nông nghiệp.
          Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở mọi người trong quá trình canh tác không được lãng phí: “Hiện còn có hợp tác xã bỏ sơn, cọ không thu, đất cày rồi không cấy, không săn sóc để trâu bò chết; mỗi lần “liên hoan”, có xã giết từ 30 đến 50 lợn, lãng phí bừa bãi của hợp tác xã và của xã viên” (4). Bên cạnh đó, Người luôn nhắc nhở việc trồng cây phải phù hợp với mùa vụ, thời tiết. Người mượn ca dao “Bao giờ đom đóm bay ra. Hoa gạo rụng xuống thì cà mới lên” để nhắc nhở người sản xuất. Trong khai thác thủy hải sản, Người căn dặn: “ Ngoài việc đánh cá phải chú ý đến nuôi cá” (5). Dù trồng trọt hay chăn nuôi, Người đều đề cao sự khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả các yếu tố tự nhiên và bảo vệ môi trường.
          Tài nguyên là tài sản quốc gia, nguồn lực quan trọng của đất nước, nên cần được đánh giá đầy đủ, quản lý một cách hiệu quả, bền vững, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, theo hướng bảo đảm tính tổng thể, liên ngành, liên vùng, đáp ứng nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, trong đó lợi ích lâu dài là cơ bản, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với từng giai đoạn. Cần tiếp tục nâng cao chất lượng quy hoạch, quản lý và khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên quốc gia. Đổi mới công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; xây dựng cơ sở dữ liệu về đất đai; thúc đẩy sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả; kết hợp bảo vệ diện tích, độ phì nhiêu của đất canh tác nông nghiệp. Quy hoạch khai thác, bảo vệ nguồn nước, tăng cường quản lý nguồn nước theo lưu vực sông; chủ động hợp tác với các nước và các tổ chức quốc tế trong việc bảo vệ nguồn nước xuyên quốc gia. Kiểm soát các hoạt động khai thác; đấu tranh, ngăn chặn tình trạng đánh bắt mang tính hủy diệt nhằm bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là vùng gần bờ. Thúc đẩy phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo, các nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu mới thay thế các nguồn tài nguyên truyền thống.
          Với tầm nhìn đi trước thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thấy vai trò to lớn của môi trường và ý nghĩa đặc biệt quan trọng của việc bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên. Trong tư tưởng của Người, đây là một nội dung lớn. Ngư­ời đã lên án, phê phán hành vi tàn phá tài nguyên thiên nhiên ảnh hưởng đến đời sống con người. Để bảo vệ môi trường thì phải tăng cường trồng cây gây rừng, phải tái tạo, bảo vệ rừng và các tài nguyên thiên nhiên khác để từng bước nâng cao chất lượng môi trường. Ngày nay, trong điều kiện phát triển kinh tế thị tr­ường, dưới sự tác động các quy luật của nền kinh tế thị trường, nhiều cá nhân, tổ chức chỉ nghĩ đến lợi ích riêng mà đã làm ảnh hư­ởng, xâm hại rất lớn đến môi trư­ờng sống. Trước tình trạng khai thác và sử dụng không hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, con ngư­ời đang phải đối mặt với những hậu quả nghiêm trọng nh­ư tình trạng ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ngộ độc thực phẩm, bệnh tật, nhất là trước tác động của biến đổi khí hậu hiện nay, chúng ta càng thấy ý nghĩa và giá trị to lớn của t­ư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường./.
          VI- Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng:
          Xây dựng “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
          Xây dựng “thế trận lòng dân” dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm khơi dậy, quy tụ lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, sự đồng thuận và ý chí quyết tâm cao của toàn dân tộc, tạo thành sức mạnh tổng hợp, vững chắc để cùng với các nhân tố khác thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ trọng yếu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
 “THẾ TRẬN LÒNG DÂN" LÀ MỘT TRONG NHỮNG MẠCH NGUỒN SỨC MẠNH NỘI SINH CỦA QUỐC GIA - DÂN TỘC
          Yếu tố “lòng dân” và “thế trận lòng dân” là hai mặt của một vấn đề có mối quan hệ biện chứng, hữu cơ với nhau; trong đó, “lòng dân” bao giờ cũng tồn tại một cách khách quan và là cơ sở, nền tảng chủ yếu để tạo nên “thế trận lòng dân”. “Thế trận lòng dân” được xây dựng vững chắc sẽ có tác động tích cực, làm cho yếu tố “lòng dân” phát triển hài hòa, lành mạnh và hướng tới thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng. Song, trên thực tế, yếu tố “lòng dân” không tự nhiên trở thành “thế trận lòng dân” và “thế trận lòng dân” có thể vững ở thời điểm này, giai đoạn này nhưng cũng có thể không vững ở thời điểm khác, giai đoạn khác và không phải cứ xây dựng vững mạnh rồi là xong, mà phải thường xuyên được củng cố trong hoạt động thực tiễn thông qua đường lối, chủ trương, chính sách hợp lòng dân, phục vụ cho lợi ích của nhân dân. Đồng thời, thế trận này phải được đặt vào trạng thái được triển khai thống nhất trong các tầng lớp dân cư, trong mọi lứa tuổi, mọi giai tầng xã hội. Ngoài ra, môi trường chính trị - xã hội cũng là một trong những điều kiện tiên quyết bảo đảm cho sự hình thành và phát triển của “thế trận lòng dân”.
          Xuyên suốt chiều dài lịch sử đất nước, không khó để nhận thấy việc “quy tụ lòng người” là bài học kinh nghiệm quý báu đóng vai trò quyết định đến thắng lợi trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc.
          Ngay từ buổi đầu của lịch sử, lòng yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc luôn là chất kết dính muôn người và trở thành nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam. Đây chính là cơ sở, nền tảng và cội nguồn sâu xa để dân tộc ta huy động sức mạnh tiềm tàng, giành độc lập tự chủ sau hơn 1.000 năm Bắc thuộc. Dưới thời nhà Trần, tư tưởng “chúng chí thành thành” và chủ trương “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước” là nhân tố quyết định trong 3 lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên - Mông, là nét nổi bật về nghệ thuật đánh giặc giữ nước mang đậm tính minh triết của dân tộc ta.
          Trái lại, dưới thời nhà Hồ, lòng dân ly tán, trước họa xâm lăng mà trăm vạn người trăm vạn lòng thì dù có quân đông tướng giỏi, thành cao hào sâu, nhưng Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng vẫn phải thốt lên “thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo”. Và đúng là “dân không theo” nên công cuộc giữ nước của nhà Hồ khi đó thất bại.
          Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm “lấy dân làm gốc”, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Người khẳng định: “Ở trong xã hội, muốn thành công phải có ba điều kiện là thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Ba điều kiện ấy đều quan trọng cả. Nhưng thiên thời không quan trọng bằng địa lợi, mà địa lợi không quan trọng bằng nhân hòa. Nhân hòa là thế nào? Nhân hòa là tất cả mọi người đều nhất trí”(1). Nhân hòa ở đây thực chất là tinh thần hòa hợp, đồng lòng của toàn dân, biểu hiện tập trung ở lòng yêu nước, sự đoàn kết toàn dân “muôn người như một”, được ví như “bức thành đồng” vững chắc, vô địch mà không có đội quân xâm lăng nào có thể công phá được. Đó cũng chính là sức mạnh của cả nước đồng lòng, toàn dân một ý chí, quyết tâm đánh giặc giữ nước. Không chỉ vậy, Đảng ta còn chú trọng giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng và trong nhân dân, sáng tạo nhiều hình thức tổ chức, tập hợp, thu hút đông đảo quần chúng tham gia sự nghiệp cách mạng, làm cho sự đoàn kết, đồng lòng ấy không ngừng được tăng cường vững chắc, được bổ sung những yếu tố mới, độc đáo, hiệu quả, góp phần quan trọng, quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
          Đến Đại hội lần thứ X, Đảng lần đầu tiên sử dụng cụm từ “thế trận lòng dân” và xác định: Xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân làm nòng cốt. Bổ sung và phát triển quan điểm này, Đại hội lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc”(2). Để củng cố và tăng cường hơn nữa “thế trận lòng dân” đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng trong tình hình mới, Đại hội XII, Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân”(3) trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 
          Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã tiến hành đồng bộ các chủ trương, giải pháp xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”; đã ban hành nhiều chính sách sát thực tiễn, hợp lòng dân, đáp ứng nguyện vọng, quyền lợi chính đáng của nhân dân, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trên phạm vi cả nước. Đồng thời, bảo đảm kinh tế phát triển nhanh và bền vững gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng và an sinh xã hội; thực hiện mỗi bước phát triển kinh tế là một bước cải thiện đời sống nhân dân; đẩy mạnh thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo, ưu đãi đối với địa bàn vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng; tạo việc làm cho người lao động, miễn giảm thuế nông nghiệp nhằm “an dân”, “dưỡng dân”. Nhờ đó, diện mạo đất nước và đời sống của nhân dân “thay da đổi thịt”, mọi người dân “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” như ước nguyện của Bác Hồ.
          Cùng với đó, Nhà nước đã ban hành, sửa đổi, đồng bộ hệ thống pháp luật, Quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân; thực thi quyền con người, quyền công dân. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cải cách hành chính… được tăng cường và có bước chuyển biến tích cực. Việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân thường xuyên được chú trọng, góp phần quan trọng vào việc quy tụ, tập hợp các tầng lớp nhân dân; trong đó, người Việt Nam ở nước ngoài cũng cùng chung tay, góp sức xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
          Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, cả khách quan, chủ quan, việc xây dựng “thế trận lòng dân” còn có mặt hạn chế. Lợi dụng những yếu kém trong quản lý, các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động chống phá, làm xuất hiện những sai lệch về chuẩn mực giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống, trái với truyền thống của dân tộc và giá trị con người Việt Nam, ảnh hưởng đến sự đồng thuận, gắn kết trong xã hội, làm cho một bộ phận nhân dân thiếu niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ, ảnh hưởng không nhỏ đến xây dựng “thế trận lòng dân”. Từ thực trạng và những vấn đề đặt ra cho thấy, xây dựng “thế trận lòng dân” để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách cần phải tăng cường đối với mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương.
          TIẾP TỤC XÂY DỰNG "THẾ TRẬN LÒNG DÂN" VỮNG MẠNH
          Trong tình hình hiện nay, để xây dựng và củng cố “thế trận lòng dân”, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần phải thực hiện đồng bộ hệ thống các giải pháp sau:
Một là, thường xuyên quan tâm, chăm lo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân bằng hệ thống các chính sách cụ thể, để nhân dân được ấm no, yên tâm và tin tưởng vào con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Các bộ, ban, ngành từ Trung ương đến địa phương cần tham gia, phối hợp chặt chẽ để tập trung phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và mức sống để nhân dân ổn định cuộc sống, nhất là ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và vùng đặc biệt khó khăn. Quá trình thực hiện, cần có các cơ chế, chính sách phù hợp, ưu tiên những vùng đặc biệt khó khăn bằng những chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh cụ thể, với khai thác tiềm năng, thế mạnh tại chỗ; đồng thời, tạo điều kiện cho các địa phương và nhân dân tiếp cận nguồn vốn và ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại vào hoạt động sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, thực hiện tiến bộ, công bằng và an sinh xã hội vì mục tiêu phát triển con người.
          Tiếp tục đẩy mạnh nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài; chăm lo sức khỏe cho nhân dân; chú trọng giải quyết các vấn đề bất bình đẳng về lợi ích, phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, miền; thường xuyên quan tâm giải quyết tốt những bức xúc, những vấn đề nổi cộm trong đời sống của nhân dân. Đẩy mạnh thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, chăm lo bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; có cơ chế phù hợp để nhân dân được tham gia bàn bạc, giám sát, phản biện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo sự đồng thuận trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
          Hai là, đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về tư tưởng và hành động của toàn dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của “thế trận lòng dân”; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng và củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước có cả những thuận lợi và khó khăn, các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, càng phải tăng cường giáo dục, tuyên truyền để nhân dân thấy rõ thời cơ và thách thức đang đặt ra đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, trong củng cố “thế trận lòng dân” nói riêng. Phải làm cho “ý Đảng, lòng dân” về “thế trận lòng dân” thấm sâu vào mỗi người dân, trở thành tư tưởng chủ đạo trong xây dựng “thế trận lòng dân” thời kỳ mới.
          Cấp ủy, chính quyền và cơ quan chức năng các cấp cần thường xuyên nắm chắc tình hình, đặc điểm dân cư và yêu cầu xây dựng “thế trận lòng dân” trên từng địa bàn để có biện pháp tiến hành phù hợp, hiệu quả. Quá trình thực hiện, cần chú trọng đổi mới nội dung, đa dạng hóa các hình thức, phương pháp giáo dục, tuyên truyền; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục thường xuyên với giáo dục theo chuyên đề gắn với các sự kiện chính trị của đất nước; phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng, phương tiện thông tin, truyền thông và thiết chế văn hóa ở cơ sở. Đồng thời, cần đẩy mạnh phong trào thi đua nhằm tạo ra các điển hình tiên tiến về xây dựng “thế trận lòng dân”; từ đó, tổ chức học tập, rút kinh nghiệm và nhân rộng trên phạm vi cả nước.
          Ba là, chú trọng xây dựng, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị các cấp theo hướng gần dân, chăm lo cho dân, tạo sức mạnh và uy tín để củng cố niềm tin trong nhân dân. Đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, gắn học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII; làm cho từng tổ chức đảng và đảng viên thực sự trong sạch, vững mạnh, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, đủ sức lãnh đạo xây dựng “thế trận lòng dân” đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Cùng với mở rộng dân chủ, cần tập trung xây dựng các tổ chức cơ sở đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng; đồng thời, coi trọng nâng cao chất lượng công tác giáo dục, rèn luyện, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, đảm bảo mỗi cán bộ, đảng viên thực sự là tấm gương sáng về phẩm chất, đạo đức, lối sống, luôn đi đầu, đi trước, làm trước, làm có hiệu quả để nhân dân tin theo trong quá trình xây dựng “thế trận lòng dân” từ cơ sở. Chú trọng việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức quần chúng và nhân dân trong tổ chức triển khai, thực hiện công tác giám sát, phản biện xã hội; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, tạo sự tin tưởng, đồng thuận và ủng hộ của nhân dân đối với chủ trương, quyết sách của Đảng, Nhà nước và cấp ủy, chính quyền các cấp.
          Bốn là, tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, thiết thực xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kiên quyết, kiên trì phòng, chống tham ô, tham nhũng theo hướng tích cực phòng ngừa là chủ yếu, kết hợp với xử lý nghiêm các hành vi vi phạm cũng như các biểu hiện dung túng, bao che hoặc ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí dưới mọi hình thức. Làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng gắn với tự tu dưỡng, rèn luyện của đội ngũ cán bộ, đảng viên; với coi trọng công tác quản lý, giám sát cán bộ, đảng viên theo đúng quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước. Đẩy mạnh đấu tranh tự phê bình và phê bình thực chất kết hợp với mở rộng dân chủ, giữ vững kỷ cương, công khai minh bạch mọi vấn đề đối với từng cá nhân, tổ chức, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí, nhất là trong các lĩnh vực có nguy cơ tham nhũng cao như quản lý và sử dụng đất đai, khai thác tài nguyên, ngân hàng, tài chính, xây dựng cơ bản, mua sắm công,… đảm bảo đủ sức phòng ngừa, răn đe, trừng trị để các đối tượng không thể và không dám tham nhũng.
          Đề cao trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị, địa phương và phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các phương tiện thông tin đại chúng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Trong quá trình thực hiện, cần kiên quyết xử lý, thay thế những cán bộ lãnh đạo, quản lý tham nhũng hoặc liên quan đến tham nhũng; đồng thời, có chính sách khuyến khích, bảo vệ các tổ chức, cá nhân phát hiện, tố cáo tham nhũng, lãng phí. Chủ động và tích cực đấu tranh làm thất bại mọi mưu đồ lợi dụng vấn nạn tham nhũng để kích động, xúi giục, chia rẽ đoàn kết nội bộ, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.
          Năm là, tăng cường hoạt động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, phòng, chống và làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đây là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, các cấp, các ngành, các địa phương, là giải pháp góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững mạnh. Theo đó, cần chủ động nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng về “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ; đồng thời, luôn kiên quyết đấu tranh, kiên trì quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của Đảng và Nhà nước.
          Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, thống nhất nhận thức, tư tưởng, hành động và đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch là vấn đề mang tính nguyên tắc, giữ vai trò quyết định trong xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”. Gắn nhiệm vụ này với đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo điều kiện để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
_____________________________
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H, 2011, t.5, tr.594.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H, 2011, tr.224-235.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H, 2016, tr.149.
 
 
 
 

Trong đó: Thu nội địa ước đạt 2.753,3 tỷ đồng; thu hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 2.520 tỷ đồng.
Trong đó chi đầu tư PT: 1.396,6 tỷ đồng, đạt 229% dự toán; chi thường xuyên: 940,4 tỷ đồng đạt 116% dự toán.
 
 
Video
Thống kê truy cập
Đang online19
Tất cả636039