2019-11-28 10:25:40 Số lượt xem 777
THÀNH ỦY BẮC NINH
BAN TUYÊN GIÁO
 œ
 
 
 
 
 
 
 
 
TÀI LIỆU
THÔNG TIN SINH HOẠT CHI BỘ THÁNG 12
(Lưu hành nội bộ)
 
 
 
 
 
                                        
 
 
 
 
 
      Tháng 12 năm 2019
 
MỤC LỤC
Stt
Nội dung
Trang
I
Công tác thông tin tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội
4
1
Những nhiệm vụ trọng tâm tháng 12/2019
4
2
Kết quả phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố năm 2019
5
3

- Tăng cường công tác tuyên truyền kỷ niệm 30 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân và 75 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam

6
II
Văn bản mới ban hành
7
1
Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 01/11/2019 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật
7
2
Quy định số 208-QĐ/TW ngày 08/11/2019 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trung tâm chính trị cấp huyện
7
 
3
Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới
7
 
4
Nghị quyết số 787/NQ-UBTVQH14 ngày 16/10/2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập 03 phường: Hòa Long, Kim Chân, Nam Sơn, thuộc thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
7
 
5
Hướng dẫn số 106-HD/BTGTW ngày 16/10/2019 của Ban Tuyên giáo Trung ương tuyên truyền kỷ niệm 30 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989-22/12/2019) và 75 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2019)
8
 
6
Kết luận số 643-KL/TU ngày 7/11/2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường lãnh đạo thực hiện chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng theo Quy định số 54-QĐ/TW ngày 12/5/1999 của Bộ Chính trị; Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, lãnh đạo các cấp.
8
7
Kết luận số 653-KL/TU ngày 22/11/2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị 29-CT/TW, ngày 18/9/2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về "Đẩy mạnh công tác an toàn, vệ sinh lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập quốc tế".
8
III
Kết quả nổi bật về công tác xây dựng Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể; thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của một số cơ quan, đơn vị
8
1
Công tác xây dựng Đảng
8
2
MTTQ và các đoàn thể Thành phố
9
IV
Đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống:
10
1
Rõ trách nhiệm, khó làm sai
10
2

Mô hình điển hình trong việc đưa Nghị quyết vào cuộc sống: Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, xây dựng phường Ninh Xá văn minh, hiện đại

12
V
Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh: “Sửa đổi lối làm việc” để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
14
VI
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng: Chủ động ngăn chặn, đẩy lùi hiểm họa từ mặt trái của mạng xã hội
16
       
NỘI DUNG 
 
        I- Công tác thông tin tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội
        1- Những nhiệm vụ trọng tâm tháng 12/2019
- Tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW về Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” chuyên đề năm 2019  “Xây dựng ý thức tôn trọng Nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống Nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng; Nghị quyết 04-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về “tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, truyền thống văn hóa cho thế hệ trẻ tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2016-2020”; tuyên truyền kết quả kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV; kết quả thực hiện công tác xây dựng Đảng, chính quyền, hoạt động của MTTQ và các đoàn thể năm 2019; công tác cải cách hành chính; MTTQ và các đoàn thể nhân dân tham gia thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH, xây dựng tổ chức đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh.
- Tuyên truyền về việc tổ chức Đại hội Đảng các cấp, xây dựng kế hoạch và triển khai công tác chuẩn bị cho Đại hội Đảng của địa phương, đơn vị theo Chỉ thị 35-CT/TW ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị và Kế hoạch số 88-KH/TU ngày 10/10/2019 của Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố; tuyên truyền Nghị quyết số 787/NQ-UBTVQH14 ngày 16/10/2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập 03 phường: Hòa Long, Kim Chân, Nam Sơn, thuộc thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
- Tăng cường chỉ đạo triển khai kế hoạch sản xuất vụ đông, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, quản lý tốt chất lượng vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trên đại bàn và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm.
- Thực hiện nghiêm túc công tác phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn năm 2019; phối hợp với các cơ quan chức năng kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý các công trình vi phạm luật đê điều, luật thủy lợi trên địa bàn.
- Tiếp tục tuyên truyền đảm bảo vệ sinh môi trường, nâng cao trách nhiệm của người dân đối với công tác VSMT. Tăng cường kiểm tra, xử lý các cơ sở kinh doanh gây ô nhiễm môi trường trong khu dân cư. Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh, du lịch, các hoạt động lễ hội, văn hóa, thể thao. Tiếp tục tuyên truyền chủ trương của Thành phố trong thời gian tới sẽ đẩy mạnh công tác vệ sinh môi trường những nơi công cộng và các khu dân cư, trong đó đầu tư thùng rác thu gom rác thải sinh hoạt hữu cơ và vô cơ bằng hai màu xanh và cam khác nhau tại các khu dân cư giúp người dân phân loại rác ngay từ đầu nguồn, đồng thời Thành phố cũng đầu tư các loại xe thu gom rác hai màu qua đó từng bước tạo ý thức nề nếp cho mọi người dân trên địa bàn Thành phố.
- Tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là trong công tác giải phóng mặt bằng triển khai các dự án, đặc biệt là các dự án trong tâm, trọng điểm của tỉnh và Thành phố chào mừng Đại hội Đảng các cấp (các công trình thuộc khu trung tâm TDTT Tỉnh, công viên hữu nghị quốc tế FDI, trung tâm văn hóa thể thao các xã, phường, …).
- Phối hợp với các cơ quan, đơn vị trong việc kiểm tra, giám sát, xử lý các vi phạm về xây dựng, nhất là các công trình có quy mô lớn (về điều  kiện khởi công, cấp phép xây dựng, an toàn lao động, vệ sinh môi trường,…).
- Thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, tiếp tục chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà ở cho hộ nghèo, người có công với cách mạng; xây dựng kế hoạch tặng quà cho các đối tượng và chúc thọ, mừng thọ người cao tuổi nhân dịp Tết Nguyên đán năm 2020.
        2- Kết quả phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố năm 2019:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) trên địa bàn đạt 10%. Tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn ước đạt 34.419,4 tỷ đồng (vượt 13,7% kế hoạch năm).
- Cơ cấu kinh tế: Khu vực dịch vụ chiếm 53,7% (tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2018); khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 45,4% (giảm 0,6% so với cùng kỳ năm 2018); khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản còn 0,9% (giảm 0,1% so với cùng kỳ năm 2018).
- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 32.650 tỷ đồng (vượt 10,2% kế hoạch năm), tăng 15,7% so cùng kỳ năm 2018.
- Giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng ước đạt 119.060,1 tỷ đồng, (vượt 3,3% kế hoạch năm), tăng 9,8% so với cùng kỳ năm 2018.
- Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản đạt 646,6 tỷ đồng (đạt 96,5% kế hoạch năm) giảm 4,6% so với cùng kỳ năm 2018.
- Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố cả năm 2019 ước thực hiện đạt 5.406 tỷ đồng (đạt 118% dự toán, tăng 9% so với năm 2018()). Ước thu ngân sách thành phố cả năm đạt 3.250,2 tỷ đồng (đạt 208% dự toán, tăng 23% so với năm 2018). Ước chi ngân sách trên địa bàn thành phố năm 2019 là 2.374,1 tỷ (đạt 152% dự toán, tăng10,1% so với năm 2018)().
- Triển khai các giải pháp tăng cường công tác quản lý đô thị, đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn.
- Hoàn thành việc duyệt danh sách và giao đất cho 1.393 lô đất DCDV tại 07 dự án, giải phóng mặt bằng và triển khai thi công hạ tầng các dự án đất dân cư dịch vụ.
- Giữ vững giáo dục là đơn vị lá cờ đầu của tỉnh. Đẩy mạnh phong trào dạy và học tiếng Anh. Tăng cường quản lý các khoản thu ngoài ngân sách của các trường học. Tăng cường công tác thanh tra việc dạy thêm học thêm cả trong và ngoài nhà trường, dần chấm dứt việc dạy thêm, học thêm sai quy định.
-  Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 0,8%. Tạo việc làm cho khoảng 5.500 lao động (vượt 10% kế hoạch năm 2019).
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên duy trì ở mức 1%. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm còn 5,5%.
- Triển khai các giải pháp tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và đảm bảo an toàn thực phẩm trên địa bàn. Tập trung chợ Đọ và các bếp ăn tập thể trường học.
- Thực hiện tốt công tác quốc phòng toàn dân, hoàn thành chỉ tiêu tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ; giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả các loại tội phạm và tệ nạn xã hội.
- Thành lập và đi vào hoạt động 03 phường Hòa Long, Nam Sơn, Kim Chân từ 01/12/2019.
- Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 10/9/2013 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phương hướng, nhiệm vụ phát triển thành phố Bắc Ninh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
- Xếp thứ nhất về “mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ công tại Trung tâm Hành chính công cấp tỉnh và cấp huyện năm 2019”. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, dịch vụ công trực tuyến, cải cách thủ tục hành chính, kỷ cương kỷ luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền.

        3- Tăng cường công tác tuyên truyền kỷ niệm 30 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân và 75 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam:

          Ngày 16-10, Ban Tuyên giáo Trung ương đã ban hành hướng dẫn tuyên truyền kỷ niệm 30 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989-22/12/2019) và 75 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2019).
          *Mục đích, yêu cầu:
          1. Tuyên truyền sâu rộng, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác quốc phòng toàn dân; tiếp tục khẳng định vai trò to lớn của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, thành tựu to lớn của 30 năm xây dựng nền quốc phòng toàn dân; những truyền thống vẻ vang và công lao, đóng góp to lớn của Quân đội nhân dân Việt Nam trong 75 năm xây dựng và trưởng thành; qua đó củng cố niềm tin đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội.
          2. Thông qua hoạt động tuyên truyền, kỷ niệm khơi dậy và phát huy trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc; xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới; cổ vũ, động viên cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân ra sức thi đua, quyết tâm thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.
          3. Các hoạt động tuyên truyền, kỷ niệm cần tổ chức thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm với quy mô và hình thức phù hợp gắn với tuyên truyền thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các ngày lễ lớn, các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước; tạo ra không khí vui tươi, phấn khởi, thi đua trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.
          *Nội dung tuyên truyền:  
          1. Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, nhất là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, các Nghị quyết Trung ương khóa XII; Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25/10/2013 của Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 22/9/2008 của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục xây dựng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới; Luật Quốc phòng 2018; Luật Dân quân tự vệ 2009; Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh năm 2013; lưu ý phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những nội dung cơ bản về xây dựng nền quốc phòng toàn dân cũng như quyền, nghĩa vụ của các cấp, các ngành, đoàn thể, của cán bộ, đảng viên và nhân  dân đối với công tác quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trong tình hình hiện nay.
          2. Những thành tựu, kết quả đạt được trong công tác quốc phòng toàn dân 30 năm qua; các bài học kinh nghiệm, những thuận lợi, khó khăn, yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong công tác quốc phòng toàn dân và trách nhiệm của hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Tập trung phát hiện và biểu dương các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận chiến tranh nhân dân.
          3. Quá trình xây dựng, trưởng thành và truyền thống chiến đấu, chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam 75 năm qua; khẳng định vai trò, công lao, đóng góp to lớn của Quân đội nhân dân Việt Nam trong công tác quốc phòng toàn dân  và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; những bài học kinh nghiệm về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại trong tình hình mới. 
          4. Tôn vinh, tri ân các Anh hùng liệt sỹ và lớp lớp cán bộ, chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam đã hy sinh, cống hiến, đóng góp to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc; đồng thời giáo dục, nêu cao phẩm chất đạo đức cách mạng của “Bộ đội Cụ Hồ”; đẩy mạnh tuyên truyền những mô hình hay, cách làm sáng tạo, những tập thể, cá nhân tiêu biểu và các phong trào thi đua yêu nước, nhất là phong trào thi đua: "Rèn đức, rèn sức, luyện tài"; "Lao động giỏi, lao động sáng tạo" và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”,...
          5. Phản ánh không khí phấn khởi, thi đua trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân và các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm diễn ra ở Trung ương, các ban, bộ, ngành, địa phương.

        II- Văn bản mới ban hành

        1. Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 01/11/2019 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật.
        2. Quy định số 208-QĐ/TW ngày 08/11/2019 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trung tâm chính trị cấp huyện.
        3. Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới
        4. Nghị quyết số 787/NQ-UBTVQH14 ngày 16/10/2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập 03 phường: Hòa Long, Kim Chân, Nam Sơn, thuộc thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
          Ngày 16/10/2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 787/NQ-UBTVQH14 về việc thành lập 03 phường: Hòa Long, Kim Chân, Nam Sơn, thuộc thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Nghị quyết 787/NQ-UBTVQH14 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/12/2019. Cụ thể:
          Thành lập phường Hòa Long trên cơ sở toàn bộ 8,91km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 21.035 người  của xã Hòa Long. Phường Hòa Long giáp các phường Vạn An, Vũ Ninh và tỉnh Bắc Giang.
          Thành lập phường Kim Chân trên cơ sở toàn bộ 4,54 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 11.676 người của xã Kim Chân. Phường Kim Chân giáp các phòng Đáp Cầu, Thị Cầu, Vũ Ninh; huyện Quế Võ và tỉnh Bắc Giang.
          Thành lập phường Nam Sơn trên cơ sở toàn bộ 11,92km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 32.659 người của xã nam Sơn. Phường Nam Sơn giáp các phường Hạp Lĩnh, Khắc Niệm, Vân Dương; các huyện Quế Võ và Tiên Du.
          Việc thành lập 03 phường là động lực tác động mạnh mẽ đến quá trình đô thị hóa thành phố Bắc Ninh, với vai trò là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa, giáo dục của tỉnh, có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và đối ngoại của tỉnh Bắc Ninh; là một vùng trọng tâm kinh tế thuộc vùng trọng điểm phía Đông và Đông nam vùng thủ đô Hà Nội, nối thủ đô Hà Nội với các cảng biển Bắc Bộ, có tiềm năng phát triển công nghiệp, thương mại, du lịch và kinh tế tri thức. Việc thành lập 03 phường cũng là tâm nguyện của Đảng bộ, chính quyền và đa số người dân trên địa bàn.
          Sau khi thành lập 03 phường, thành phố Bắc Ninh có 19 phường; tỉnh Bắc Ninh có 08 đơn vị hành chính cấp huyện: gồm 06 huyện, 01 thị xã, 01 thành phố; 126 đơn vị hành chính cấp xã: gồm 94 xã, 26 phường, 06 thị trấn.
          5. Hướng dẫn số 106-HD/BTGTW ngày 16/10/2019 của Ban Tuyên giáo Trung ương tuyên truyền kỷ niệm 30 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989-22/12/2019) và 75 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2019)
          6. Kết luận số 643-KL/TU ngày 7/11/2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường lãnh đạo thực hiện chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng theo Quy định số 54-QĐ/TW ngày 12/5/1999 của Bộ Chính trị; Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, lãnh đạo các cấp.
          7. Kết luận số 653-KL/TU ngày 22/11/2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị 29-CT/TW, ngày 18/9/2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về "Đẩy mạnh công tác an toàn, vệ sinh lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập quốc tế".
          III- Kết quả nổi bật về công tác xây dụng Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể; thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của một số cơ quan, đơn vị
        1- Công tác xây dựng Đảng
Các Ban xây dựng Đảng, Văn phòng Thành ủy, Trung tâm BDCT Thành phố tập trung triển khai một số nội dung trọng tâm sau: đẩy mạnh tuyên truyền thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, chuyên đề năm 2019; tuyên truyền những kết quả phát triển kinh tế - xã hội của thành phố; chủ đề công tác năm 2019, 05 quyết tâm chính trị, Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 20/9/2019 của BTV Thành ủy…Biên tập và xuất bản Bản tin thành phố, duy trì hoạt động của Trang thông tin điện tử Thành ủy.Duy trì tổ chức Lễ chào cờ vào tuần đầu tiên hàng tháng, đến nay đã có 22 chi, đảng bộ tổ chức Lễ Chào cờ. Chỉ đạo các đơn vị, địa phương tiếp tục bổ sung, tái bản lịch sử Đảng bộ. Tham mưu giúp Ban Thường vụ Thành ủy về công tác cán bộ và chế độ chính sách đối với cán bộ; kết nạp Đảng, chuyển đảng chính thức đảng viên dự bị; đề nghị tặng Huy hiệu Đảng cho các đảng viên dịp kỷ niệm 102 năm Cách mạng Tháng Mười Nga (7/11/1917 - 7/11/2019).... Ban hành quyết định, kế hoạch kiểm tra; xem xét giải quyết theo thẩm quyền và chuyển các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết.Tiếp tục triển khai thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết về công tác Dân vận, đồng thời tổ chức việc sơ, tổng kết định kỳ theo quy định;tiếp tục hướng dẫn đẩy mạnh việc triển khai Chương trình “10 phút góp phần làm sạch thành phố”. Chuẩn bị tốt các điều kiện tổ chức các Hội nghị; chỉ đạo triển khai thực hiện Quy định số 11-QĐi/TW về công tác tiếp dân và xây dựng lịch tiếp dân của các đồng chí Thường trực Thành ủy theo quy định. Thực hiện nghiêm túc chế độ gửi nhận văn bản trên mạng thông tin diện rộng, xử lý phát hành các văn bản chỉ đạo của cấp ủy kịp thời, đúng quy định. Tiếp nhận và xử lý   kịp thời công văn đến, phát hành văn bản đi của cấp ủy, đảm bảo đúng thể thức, hạn chế sai sót. Tổ chức mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn theo kế hoạch. Tổ chức Hội nghị thông tin thời sự; cấp phát Bản tin sinh hoạt chi bộ, cuốn tài liệu tham khảo dành cho báo cáo viên.
        2- MTTQ và các đoàn thể Thành phố
* Sáng 27/11, Hội CCB thành phố Bắc Ninh trọng thể tổ chức Lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Hội CCB Việt Nam (6/12/1989 – 6/12/2019).
Trải qua 30 năm xây dựng và trưởng thành, Hội CCB Việt Nam luôn giữ vững bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định theo con đường mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn.
Cùng với sự lớn mạnh của Hội CCB Việt Nam, suốt chặng đường xây dựng và phát triển, Hội Cựu chiến binh thành phố đã khẳng định vai trò, vị trí của mình, tích cực đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, đảm bảo chính trị, tư tưởng đội ngũ cán bộ, hội viên. Các thế hệ cựu chiến binh thành phố tiếp tục giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ", cùng nhau đoàn kết, nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, khẳng định vị thế của một tổ chức chính trị - xã hội, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng bộ, chính quyền và niềm tin yêu của nhân dân thành phố.
Hiện nay, Hội CCB thành phố có 25 cơ sở Hội trực thuộc, 114 chi hội và gần 9.000 Hội viên. Trong những năm qua, các cấp Hội đã tích cực tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, các hiện tượng tiêu cực và tệ nạn xã hội; chủ động ngăn chặn, đấu tranh với những quan điểm sai trái, phản động, những âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Tích cực vận động cựu chiến binh phát huy tinh thần tự lực, tự cường, dám nghĩ, dám làm, sáng tạo trong lao động, sản xuất, đẩy mạnh việc giúp nhau làm kinh tế, nâng cao đời sống, vươn lên làm giàu. Đến nay, tỷ lệ hội viên CCB khá giàu đạt 67%, hộ nghèo giảm còn 0,26%.
Các cấp Hội tổ chức triển khai và hưởng ứng nhiều cuộc vận động, phong trào với nội dung, hình thức phong phú, hiệu quả, như: Cuộc vận động "Vì thành phố Bắc Ninh sạch", "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh"; các hoạt động "Đền ơn, đáp nghĩa", phong trào phòng, chống tội phạm, ma túy và tệ nạn xã hội; bảo vệ môi trường... Đồng thời, phối hợp với Đoàn thanh niên tích cực tham gia giáo dục, bồi dưỡng truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và xây dựng lý tưởng, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ thành phố. Qua tổng kết hằng năm, Hội CCB thành phố luôn đạt “Trong sạch vững mạnh”, 98% Hội viên đạt CCB gương mẫu, 97 % gia đình CCB đạt tiêu chuẩn “Gia đình văn hóa”.
Với những thành tích đạt được trong chặng đường 30 năm xây dựng và trưởng thành, các cấp Hội cựu chiến binh thành phố đã vinh dự được Đảng, Nhà nước và Trung ương Hội cựu chiến binh Việt Nam tặng thưởng nhiều Bằng khen, Huân Chương, cờ thi đua. Những cố gắng và kết quả đó đã đóng góp tích cực để thành phố Bắc Ninh có những bước chuyển mình mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, nâng tầm vị thế trở thành 1 trong 17 đô thị loại I trực thuộc tỉnh của cả nước.
Nhân dịp này, Chủ tịch UBND thành phố tặng Giấy khen cho 6 tập thể, 6 cá nhân; Hội CCB thành phố khen thưởng 2 tập thể, 3 cá nhân có thành tích tiêu biểu nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Hội CCB Việt Nam./.
  IV- Đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống:
          1. Rõ trách nhiệm, khó làm sai
          Công tác cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng và là “khâu then chốt” của “nhiệm vụ then chốt” vì “cán bộ là gốc của công việc” và “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”.
          Việc tìm kiếm, lựa chọn được những cán bộ đủ năng lực, phẩm chất, đáp ứng công việc được giao, hay nói cách khác là tìm đúng người trao đúng việc, là khâu quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng, đòi hỏi người làm công tác cán bộ phải thật minh bạch, công tâm, khách quan. Thế nhưng đâu đó trong chuỗi hoạt động quan trọng này đã nảy sinh những toan tính, vụ lợi, sử dụng quyền được trao để đạt được mục đích cho riêng mình. 
          * Không rõ ràng, khó xử lý
          Việc lạm dụng quyền lực trong công tác cán bộ đang diễn ra một cách tinh vi, phức tạp và không dễ nhận biết. Nghị quyết số 26-NQ/TW đã chỉ ra khá đầy đủ, rõ ràng thực trạng này: “Việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, “cánh hẩu” xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận. Công tác tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức, viên chức còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao, chưa đồng đều, có nơi còn xảy ra sai phạm, tiêu cực”. 
          Để xảy ra tình trạng lạm dụng quyền lực trong công tác cán bộ do nhiều nguyên nhân, mà một trong số đó là do còn những thiếu sót, hạn chế đối với việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, do chưa có cơ chế kiểm soát quyền lực một cách hữu hiệu. Đảng ta đã thẳng thắn thừa nhận: “Phân công, phân cấp, phân quyền chưa gắn với ràng buộc trách nhiệm, với tăng cường kiểm tra, giám sát và chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Chưa có biện pháp hữu hiệu để kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng chạy chức, chạy quyền và những tiêu cực trong công tác cán bộ. Thiếu chặt chẽ, hiệu quả trong phối hợp kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm”.
          Công tác cán bộ của Đảng gồm nhiều nội dung và nhiều khâu, từ nhận xét, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bổ nhiệm đến khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với cán bộ. Tất cả các khâu của công tác cán bộ đều có quan hệ mật thiết, biện chứng với nhau. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc "tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách". Tuy nhiên, nguyên tắc "tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách" chưa được xác định một cách rõ ràng, rành mạch cơ chế trách nhiệm đã dẫn đến thực tế ở không ít nơi khi xảy ra những câu chuyện trong công tác cán bộ, cần xác định căn nguyên để xử lý thì có sự né tránh, đùn đẩy trách nhiệm cá nhân, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm, tất cả đổ lỗi cho tập thể. Trong bố trí sử dụng cán bộ có tình trạng độc đoán, chuyên quyền, lạm dụng quyền hạn, lợi dụng tập thể để hợp thức hóa ý chí của một người hoặc một nhóm người, từ đó làm cho những quyết định về cán bộ và công tác cán bộ thiếu công tâm, khách quan, bị sai lệch. Chính vì vậy, việc lựa chọn, bố trí cán bộ không còn chính xác, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao.
          * Rành mạch trong quy trách nhiệm
          Trước thực trạng xảy ra nhiều vi phạm trong công tác cán bộ, trong nhiều văn bản, Đảng ta đã yêu cầu phải quy định chặt chẽ và thực hiện nghiêm quy trình công tác cán bộ. Hội nghị Trung ương 4 (Khóa XII) chỉ rõ "các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo rà soát, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền, theo hướng quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm tập thể, cá nhân trong từng công đoạn giải quyết công việc và có chế tài xử lý nghiêm những hành vi vi phạm. Tại Hội nghị lần thứ 7 (khóa XII), Ban Chấp hành Trung ương yêu cầu "Quy định chặt chẽ và thực hiện nghiêm quy trình công tác cán bộ. Xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu trong công tác cán bộ".
          Để hạn chế, đi đến chấm dứt tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, bên cạnh việc nêu cao trách nhiệm người đứng đầu, cần cụ thể hóa trách nhiệm của từng cá nhân trong mỗi vụ việc, tránh để trách nhiệm cá nhân “lẩn” trong trách nhiệm tập thể. Quy định số 205-QĐ/TW về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền, đã cụ thể hóa, quy rõ trách nhiệm trong thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước.
          Cụ thể, đối với cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo địa phương, cơ quan, đơn vị, Khoản 1 Điều 3 Quy định 205-QĐ/TW nêu rõ: "Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các nguyên tắc, quy định, quy chế, quy trình về công tác cán bộ; thường xuyên tự kiểm tra, kịp thời chấn chỉnh những sai sót và chịu trách nhiệm về những hạn chế, khuyết điểm trong công tác cán bộ thuộc phạm vi, thẩm quyền, trách nhiệm được giao."
          Đối với thành viên cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo địa phương, cơ quan, đơn vị, điều 4, khoản 1 quy định: "Thực hiện đúng, đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm của mình trong công tác cán bộ. Phản ánh kịp thời, đầy đủ, chính xác, trung thực đến cấp có thẩm quyền những nội dung có liên quan đến nhân sự mà cá nhân được phân công theo dõi, quản lý. Thể hiện rõ chính kiến và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình, được bảo lưu ý kiến." Điều 4, khoản 3 quy định: "Chịu trách nhiệm cá nhân trong việc đề xuất nhân sự và trong việc nhận xét, đánh giá, xác nhận hồ sơ, lý lịch, các giấy tờ có liên quan của nhân sự thuộc thẩm quyền phụ trách. Với tư cách là thành viên, chịu trách nhiệm liên đới đối với từng quyết định không đúng về công tác cán bộ của tập thể lãnh đạo, trừ trường hợp đã có ý kiến không đồng ý trong quá trình thực hiện quy trình công tác cán bộ và báo cáo cấp có thẩm quyền bằng văn bản (hoặc ý kiến đã được ghi nhận trong biên bản cuộc họp). Khoản 4 ghi rõ: "Chịu trách nhiệm khi để xảy ra tiêu cực, sai phạm trong công tác cán bộ ở địa phương, cơ quan, đơn vị, lĩnh vực thuộc thẩm quyền được giao quản lý, phụ trách." Tại Điều 5 quy định đối với người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, địa phương, cơ quan, đơn vị, khoản 3 quy định "Đề xuất rõ ràng, cụ thể về yêu cầu, tiêu chuẩn, cơ cấu, điều kiện, quy trình giới thiệu, đánh giá nhân sự. Kết luận đầy đủ, chính xác, trung thực, khách quan những nội dung thảo luận và chịu trách nhiệm về kết luận của mình khi chủ trì hội nghị về công tác cán bộ." Điều 6 quy định: Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị được giao thực hiện công tác cán bộ ở các cấp, chịu trách nhiệm trước cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo đối với những đề xuất, nhận xét, đánh giá, thẩm định nhân sự, hồ sơ nhân sự.
          Cán bộ tham mưu, đề xuất phải chịu trách nhiệm về đề xuất của mình và tính chính xác, kịp thời của hồ sơ nhân sự. Đặc biệt, Quy định đã dành hẳn một điều để quy định rõ trách nhiệm của nhân sự, đó là báo cáo kịp thời, đầy đủ, chính xác, rõ ràng hồ sơ lý lịch đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức và kê khai trung thực tài sản, thu nhập theo quy định; tự giác không ứng cử, không nhận đề cử, quy hoạch, bổ nhiệm, phong, thăng cấp bậc hàm, khen thưởng, chế độ, chính sách nếu bản thân thấy không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, phẩm chất, uy tín, năng lực, sức khỏe; nghiêm cấm việc trực tiếp hoặc thông qua người khác, phương tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội để phát tán thông tin không đúng sự thật, tố cáo sai sự thật nhằm đề cao bản thân, hạ thấp uy tín người khác trong công tác cán bộ. Đồng thời, Điều 10 của Quy định 205-QĐ/TW cũng chỉ rõ các hành vi chạy chức, chạy quyền cần nghiêm cấm. 
          Quy định 205-QĐ/TW đã xác định rất cụ thể trách nhiệm không chỉ của người có thẩm quyền trong công tác tổ chức cán bộ mà cả nhân sự được đề xuất. Đây là việc làm rất cần thiết, minh bạch quá trình thực hiện quy trình cán bộ, phân định rõ ràng quyền đi cùng với ràng buộc trách nhiệm trong việc giới thiệu đề xuất, thẩm định đối với tập thể và cá nhân. Quy định rõ như vậy trước hết sẽ nâng cao tính trách nhiệm của cá nhân và tập thể đối với các đề xuất, quyết định trong công tác cán bộ, đồng thời là căn cứ, cơ sở để xử lý nếu để xảy ra vi phạm./.

          2- Mô hình điển hình trong việc đưa Nghị quyết vào cuộc sống: Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, xây dựng phường Ninh Xá văn minh, hiện đại

          Sau gần 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ X, nhiệm kỳ 2015-2020, Đảng bộ phường Ninh Xá (thành phố Bắc Ninh) cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt kế hoạch các chỉ tiêu đề ra. Kết quả đó không chỉ khẳng định vị thế, sự nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân toàn phường, mà còn tạo thế và lực xây dựng phường ngày càng văn minh, hiện đại, an toàn. 
          Với việc xác định rõ nhiệm vụ “Phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội”, nhiệm kỳ qua, Đảng ủy phường Ninh Xá đã triển khai rộng khắp các chỉ tiêu Nghị quyết đến toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân toàn phường; khơi dậy và phát huy truyền thống đoàn kết, hăng hái thi đua lao động sản xuất, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước trong nhân dân, tạo thuận lợi cho sự phát triển ổn định và bền vững. Cùng với đó, Đảng ủy phường cũng tập trung lãnh, chỉ đạo, triển khai thực hiện các biện pháp để phát triển kinh tế, chú trọng phát huy lợi thế là trung tâm đô thị có nhiều đường giao thông liên tỉnh chạy qua như QL 38, Tỉnh lộ 295B và nhiều điểm công cộng như nhà ga, bến xe buýt liên tỉnh, chợ trung tâm để đẩy mạnh thương mại-dịch vụ, coi đây là ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực cho phát triển chung của phường. Chính vì vậy, thu ngân sách hằng năm của phường đều đạt và vượt kế hoạch so với dự toán giao.
           Lĩnh vực văn hoá - xã hội cũng đạt được những dấu ấn đáng ghi nhận. Cơ sở vật chất các nhà trường được đầu tư theo hướng chuẩn hóa, chất lượng giảng dạy và học tập được nâng lên. Đội ngũ cán bộ, giáo viên ở 3 cấp học, 100% đạt chuẩn và trên chuẩn, 3 nhà trường đạt chuẩn quốc gia, chất lượng giáo dục đại trà và mũi nhọn tăng, công tác khuyến học, khuyến tài được đẩy mạnh. Công tác y tế, dân số kế hoạch hóa gia đình và trẻ em được triển khai thực hiện có hiệu quả. 100% trẻ em trên địa bàn được tiêm chủng đầy đủ theo mục tiêu quốc gia; công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm được quan tâm kiểm tra thường xuyên; công tác phòng, chống dịch bệnh luôn được kiểm soát không để xảy ra dịch bệnh lớn trên địa bàn. Chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ngày càng nâng cao. Đến nay, 8/8 khu phố có nhà văn hóa; hằng năm toàn phường có từ 96% đến 98% số hộ đăng ký đạt Gia đình văn hóa, 8/8 khu phố giữ vững danh hiệu khu phố văn hoá, phường đạt chuẩn văn minh đô thị. Công tác an sinh xã hội được quan tâm thực hiện đầy đủ, kịp thời; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tỷ lệ hộ nghèo của phường giảm còn 0,13%.
          Cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, Đảng bộ phường Ninh Xá luôn quan tâm đến công tác xây dựng và củng cố tổ chức Đảng. Đảng bộ phường đã triển khai thực hiện tốt Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết T.Ư 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Qua đó, đã tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về vai trò, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh và thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Đảng bộ phường đã cử 30 quần chúng ưu tú đi bồi dưỡng cảm tình Đảng, 3 đồng chí đi học trung cấp lý luận chính trị và kết nạp được 26 đảng viên mới. Hiện, Đảng bộ phường có 14 chi bộ trực thuộc với 670 đảng viên (trong đó có 8 chi bộ khu dân cư, 3 chi bộ nhà trường, 1 chi bộ công an, 2 chi bộ doanh nghiệp). Qua đánh giá hằng năm, có trên 85% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên; trên 90% chi bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ; Đảng bộ phường nhiều năm liên tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được Tỉnh ủy, Thành ủy khen thưởng. 
          Những kết quả trên đã tạo sự tin tưởng, phấn khởi, đồng thuận trong nhân dân về sự lãnh đạo của Đảng bộ. Đây cũng là điều kiện thuận lợi để Đảng bộ làm tốt công tác chuẩn bị Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2020-2025.
          Theo đó, ngay sau khi tiếp thu Chỉ thị 35 của của Bộ Chính trị về Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần XIII của Đảng và các văn bản, kế hoạch chỉ đạo của cấp trên, Đảng ủy phường đã tổ chức quán triệt đến cán bộ, đảng viên, đồng thời xây dựng Kế hoạch Đại hội đại biểu phường lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020-2025 và Đại hội các chi bộ trực thuộc Đảng bộ phường nhiệm kỳ 2020-2022. Là đơn vị được Ban Thường vụ Thành ủy chọn tổ chức Đại hội điểm, đến nay, công tác chuẩn bị cho Đại hội các chi bộ trực thuộc Đảng bộ phường và Đại hội đại biểu Đảng bộ phường Ninh Xá lần thứ XI được chuẩn bị tích cực, chu đáo, bài bản về mọi mặt. Dự kiến, Đại hội các chi bộ trực thuộc Đảng bộ phường sẽ hoàn thành trước 22-12-2019 và Đại hội đại biểu Đảng bộ phường sẽ hoàn thành trong tháng 1-2020. 
          V-Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh:
          “Sửa đổi lối làm việc” để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
          Ngay từ những năm đầu mới giành được chính quyền, Hồ Chí Minh đã nhận thấy vấn đề cốt tử và lâu dài trong Đảng cần phải “Sửa đổi lối làm việc”, xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, đáp ứng nhiệm vụ to lớn của cách mạng.
          PHÊ BÌNH, SỬA CHỮA LỐI LÀM VIỆC
          Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm, chăm lo công tác cán bộ, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng “vừa hồng, vừa chuyên”, xứng đáng với vị trí cầm quyền được lịch sử và nhân dân giao phó.
          Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là vũ khí sắc bén để làm cho Đảng ta trong sạch, vững mạnh. Người chỉ rõ: Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa chữa cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn, đoàn kết và thống nhất nội bộ hơn. Nhờ đó, làm cho sự vững mạnh và tiến bộ của Đảng ngày càng tăng thêm. Theo tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh, việc phê bình và thực hiện tự phê bình vừa phải nghiêm túc nhưng cũng rất thân ái, “chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, châm chọc”. Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người. Theo đó, Hồ Chí Minh nêu lên những căn bệnh mà người cán bộ thường mắc phải trong công việc cần phê bình, sửa chữa.
          Một là, bệnh chủ quan. Đó là chứng bệnh nguy hiểm gây tác hại lớn cho cách mạng. Nguyên nhân của bệnh chủ quan là do kém hiểu biết về lý luận, hoặc coi khinh lý luận, hoặc lý luận suông, làm việc chỉ theo kinh nghiệm của bản thân, không biết khái quát thành lý luận chung, giải quyết công việc một cách sự vụ, vụn vặt. Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng, một mắt mờ”, rất nguy hại trong công việc của Đảng, nó biến người cán bộ, đảng viên trở thành những ông “quan cách mạng” vừa mù quáng, quan liêu, vừa giáo điều, xa rời thực tiễn và xa rời quần chúng.
          Hai là, bệnh hẹp hòi. Đây là căn bệnh cũng rất nguy hiểm, mà nhiều cán bộ và đảng viên vẫn còn mắc phải. Theo Hồ Chí Minh, bệnh này, bên trong thì ngăn cản Đảng thống nhất và đoàn kết, bên ngoài thì phá hoại sự đoàn kết toàn dân. Biểu hiện của bệnh hẹp hòi là ham danh vọng và địa vị, tự tôn, tự đại, kéo bè, kéo cánh, chèn ép những người không ưa mà quên đi mục tiêu chung của Đảng, gây nên sự lủng củng trong nội bộ, sự mất đoàn kết giữa bộ phận và toàn cục, đảng viên với Đảng. Cũng vì bệnh hẹp hòi mà bỏ mất nhân tài, bỏ mất sự đoàn kết với “các hạng đồng bào (như tôn giáo, dân tộc thiểu số, anh em trí thức…)”, dẫn đến phá hoại chính sách đoàn kết, cũng như ảnh hưởng không nhỏ tới sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.
          Ba là, bệnh ba hoa. Đây là căn bệnh đến nay vẫn còn khá phổ biến trong cán bộ, đảng viên mà Đảng ta nhận diện là “nói không đi đôi với làm” hay “nói một đường làm một nẻo”. Bệnh ba hoa biểu hiện trước hết là nói và viết dài dòng, rỗng tuếch, dùng chữ cầu kỳ, khó hiểu, không nhằm đúng đối tượng, quần chúng, không thấu hiểu thực tiễn, cho nên không có tác dụng gì cả.
          Như vậy, sửa đổi lối làm việc của Đảng ở các cấp, trước hết phải đề phòng, sửa chữa các bệnh nêu trên, các bệnh đó vừa là kẻ địch bên trong vừa là bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài, trong đó kẻ địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng nâng cao cảnh giác, đề phòng các căn bệnh đó, tăng cường phê bình, tự phê bình, kiểm điểm, sửa chữa như “mỗi ngày phải tự rửa mặt”. Được như vậy, cán bộ, đảng viên mới không bị “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” và “suy thoái đạo đức, lối sống”, phấn đấu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
          VẤN ĐỀ CÁN BỘ VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ
          Cán bộ có vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng. Triết lý cán bộ đã được Hồ Chí Minh  khẳng định, là “gốc” của mọi công việc. Công việc tốt xấu đều do cán bộ mà ra. Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như trong các nghị quyết của Đảng ta đều dành sự quan tâm đặc biệt cho công tác cán bộ. Nghị quyết Trung ương 3, khóa VIII của Đảng xác định: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, là then chốt trong then chốt của công tác xây dựng Đảng. Thực tiễn đã chứng minh rõ điều đó và ngày càng phải chú trọng đến công tác cán bộ.
          Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh đã chỉ ra những khuyết điểm, yếu kém trong công tác cán bộ, đồng thời đề ra những quan điểm và giải pháp về vấn đề cán bộ mà đến nay những chỉ dẫn ấy vẫn còn mang tính thời sự nóng hổi.
          Trước hết, là việc đào tạo cán bộ cho cách mạng. Vì cán bộ là cái “gốc” của mọi công việc, do đó, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là công việc “gốc” mà Đảng thường xuyên phải chăm lo. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ huấn luyện nghề nghiệp cho cán bộ là khâu đầu tiên. Vì, vô luận cán bộ ở môn nào, làm nghề nào, ngành nào cũng phải học cho thành thạo công việc ở môn ấy; đồng thời, phải nghiên cứu những chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Chính phủ; học tập những kinh nghiệm thành công và thất bại; học tập lịch sử truyền thống cách mạng và sự phát triển trong từng thời kỳ… Theo đó, việc huấn luyện phải sắp xếp cách dạy và học, kiểm tra kết quả, sao cho cán bộ dần dần đi đến thạo công việc; huấn luyện chính trị, môn nào cũng phải có, cần coi trọng nâng cao kiến thức văn hóa.
          Thứ hai, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ. Hồ Chí Minh cho rằng, Đảng phải luôn nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu; trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của Đảng, của đất nước. Đảng phải biết rõ cán bộ, xem xét lại nhân tài và tìm nhân tài mới. Một trong những vấn đề Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, đó là đặt đúng người vào đúng công việc thích hợp. Người nói: “Phải khéo dùng cán bộ”. Tức là, phải biết tùy tài mà dùng người; Phải phân phối cán bộ cho đúng. Tức là phải dùng người đúng chỗ, đúng việc.
          Thứ ba, xây dựng cơ chế làm việc cho cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra năm cách. Một là, chỉ đạo - thả ra cho họ làm, thử cho họ phụ trách, dù sai lầm chút ít cũng không sợ. Nhưng phải luôn luôn tùy hoàn cảnh mà bày vẽ cho họ về phương hướng công tác, cách thức công tác để phát triển năng lực và sáng kiến. Hai là, luôn bồi dưỡng cán bộ, nâng cao tư tưởng, trình độ lý luận và cách làm việc cho họ. Ba là, thường xuyên kiểm tra để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Bốn là, khi họ sai lầm thì dùng cách thuyết phục giúp họ sửa chữa, cải tạo. Năm là, giúp đỡ họ điều kiện sinh sống đầy đủ mà làm việc. Những điều đó có mối quan hệ rất quan trọng đối với tinh thần của cán bộ và sự thân ái đoàn kết trong Đảng. Đó là những cách làm khoa học, nhân văn sâu sắc rất cần trong đời sống cán bộ và công tác cán bộ hiện nay.
          Thứ tư, về chính sách cán bộ, Sửa đổi lối làm việc theo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong điều kiện hiện nay của cán bộ, đảng viên là hết sức cần thiết. Hơn lúc nào hết, Đảng phải xốc lại đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất về đạo đức chính trị, đủ năng lực về chuyên môn, có lề lối làm việc khoa học mới có thể đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế.
          Trong giai đoạn cách mạng hiện nay và trước yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế, việc thường xuyên sửa đổi lối làm việc khoa học, cách mạng có ý nghĩa to lớn và rất quan trọng đối với mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là phục vụ kịp thời và thiết thực đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng. Đồng thời, đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; gắn với thực hiện Quy định số 08-QĐi/TW gần đây của Ban Chấp hành Trung ương về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”.  Theo đó, tích cực đấu tranh quyết liệt với chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc, với bọn tham nhũng và “lợi ích nhóm”, bọn cơ hội chính trị, chủ nghĩa cá nhân trong Đảng, góp phần xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Làm được điều đó mới giúp Đảng ta có cơ sở để tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình hiện nay.
          VI- Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng:
          Chủ động ngăn chặn, đẩy lùi hiểm họa từ mặt trái của mạng xã hội
          Ngày nay, với khả năng giúp con người tạo dựng những mối quan hệ vượt ra ngoài giới hạn không gian và thời gian để giao lưu, chia sẻ, mạng xã hội đã trở thành một thứ “quyền lực” trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, từ vai trò, mục đích của người sử dụng, mạng xã hội phát huy được một số tính năng ưu việt và cũng sớm bộc lộ một số hạn chế cốt tử, có thể đẩy tới hiểm họa, tác động tiêu cực tới sự phát triển xã hội, con người.
          Thống kê từ các khảo sát cho biết, hiện tổng lượng truy cập internet (in-tơ-nét) trên toàn cầu tập trung vào khoảng 150 công ty, chủ yếu là của Mỹ, như Facebook, Google, Yahoo, Twitter. Còn tại các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển, mạng xã hội lại trở thành thách thức đối với quản lý hành chính và kỹ thuật. Thực tế cho thấy, khi mạng xã hội được sử dụng vì lợi ích chung của xã hội sẽ đem lại nhiều hiệu ứng tích cực, giúp kết nối mọi người; cũng là một kênh ma-két-tinh, kinh doanh hiệu quả, giúp nắm bắt thông tin, và là một kênh giải trí hữu ích. Đáng chú ý, với sự ưu việt của các thiết bị thông tin cá nhân (như điện thoại thông minh - smartphone), mạng xã hội có khả năng tiếp cận từng cá thể ở mọi lúc, mọi nơi, có thể tạo nên “bản sao” của đời sống thực trên “không gian ảo”.
          Song, từ các nguyên nhân khác nhau mà bên cạnh mặt tích cực, mạng xã hội cũng sớm bộc lộ nhiều bất cập, tác động tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi mặt của đời sống. Chỉ riêng về chính trị - xã hội, mạng xã hội đã làm phức tạp, gây tai họa cho nhiều quốc gia. Chẳng hạn, các biến động chính trị xã hội ở Bắc Phi, Trung Đông đều có sự tham gia, hoặc chủ động, hoặc bị động của các tổ chức, cá nhân sử dụng mạng xã hội làm công cụ để truyền bá thông tin, liên lạc và tổ chức hoạt động. Những người tham gia cuộc bạo động đường phố vào tháng 8-2011 ở Anh, cuộc xuống đường “chiếm phố Wall” ở Mỹ, biểu tình ở Hồng Công (Trung Quốc) gần đây, và hoạt động tương tự tại nhiều nước khác đều sử dụng Facebook, Twitter như “vũ khí” lợi hại để quảng bá cái gọi là “giá trị dân chủ”, thúc đẩy “cách mạng mầu”, tổ chức lật đổ hoặc thay đổi thể chế ở một số nước.
          Với Việt Nam, gần đây, mạng xã hội như đã trở thành môi trường để một số người truyền bá luận điệu sai trái, đưa ra thông tin xấu độc, gây hại, công bố phát ngôn gây thù hận; đồng thời bị một số người lợi dụng để thể hiện hành vi phản văn hóa, vi phạm thuần phong mỹ tục, sử dụng ngôn từ tục tĩu để thóa mạ, chửi bới người không có cùng quan điểm. Một số trường hợp, khi đến với công chúng, mạng xã hội còn làm cho thông tin chính thống bị nhiễu loạn, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an ninh xã hội. Có thể nói, mạng xã hội đang giống như “mê hồn trận”, làm cho con người khó phân biệt đâu là tin thật, đâu là tin giả... Và nổi lên trong đó là việc một mặt các thế lực thù địch lợi dụng mạng xã hội để hô hào tụ tập đông người phản đối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cố gắng kích động dư luận, biến bức xúc thành bạo động, khiến sinh hoạt xã hội trở nên phức tạp; mặt khác, họ triệt để lợi dụng mạng xã hội để hình thành cái gọi là “truyền thông độc lập”, tách khỏi sự quản lý của Nhà nước; thực hiện các thủ đoạn tuyên truyền phá hoại tư tưởng, kích động tâm lý hoài nghi với chính quyền, thổi bùng bức xúc trong nhân dân để tạo điều kiện, môi trường thực hiện “cách mạng mầu”; đồng thời cổ xúy cho các luận điệu dân chủ, nhân quyền, đòi tự do biểu tình, tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do báo chí, tự do tôn giáo theo quan điểm phương Tây để phục vụ cho “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Do đó, chủ động ngăn chặn hiểm họa từ mặt trái của mạng xã hội đã trở thành yêu cầu cấp thiết trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với các giải pháp mạnh mẽ, đồng bộ, hiệu quả... Cụ thể như:
          Một là, tuyên truyền, giáo dục nâng cao trách nhiệm, ý thức tuân thủ pháp luật cho mỗi người khi sử dụng mạng xã hội. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định, vì sự lệch lạc trong nhận thức về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội sẽ dẫn đến ngộ nhận, sai lầm trong hành vi và làm cho an ninh, trật tự có thể chứa đựng mối nguy hiểm tiềm tàng. Do đó, cần chủ động, tích cực tuyên truyền, giáo dục, giúp mọi người nhận thức được tác động tiêu cực từ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, không vô tình tiếp tay cho hoạt động chống phá, và các hành vi tiêu cực, phản cảm, thiếu văn hóa trên mạng xã hội.
          Hai là, hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp để quản lý internet trên cơ sở hành lang pháp lý là Luật An ninh mạng và các luật, bộ luật liên quan. Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của internet, nhất là mạng xã hội, luôn có thể xuất hiện một (những) vấn đề mới, dễ làm cho một số quy định pháp luật trở nên lạc hậu, bất cập hoặc không còn phù hợp, vì vậy cần thường xuyên theo dõi, khảo sát, đánh giá, nếu cần thiết phải kịp thời điều chỉnh, bổ sung, để hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách,... giúp quản lý hiệu quả, vừa phù hợp với các quy tắc điều chỉnh hành vi văn hóa trong sinh hoạt xã hội và cộng đồng, vừa theo kịp sự phát triển của mạng xã hội với các vấn đề mới của nó. Sự tiến bộ, hoàn chỉnh của hệ thống pháp luật ở nước ta cần phải tạo ra khung pháp lý thể hiện qua các biện pháp quản lý đồng bộ đối với trang điện tử, mạng xã hội; thắt chặt việc tạo tài khoản cá nhân; có điều luật xử lý người lợi dụng internet để hoạt động chống chính quyền, lừa đảo kinh tế, tiến công các tổ chức, cá nhân... Đáng chú ý, bên cạnh việc biểu dương, ủng hộ người tốt, đưa thông tin tốt, cũng cần phải phê phán, răn đe người không tốt, xử lý người đưa tin xấu, độc...
          Ba là, hoạch định các giải pháp kỹ thuật bảo đảm chủ động, kịp thời, hiệu quả trong quản lý truyền thông mạng xã hội. Giải pháp về công nghệ đưa tới các biện pháp kỹ thuật phù hợp, theo kịp sự phát triển của internet, khuyến khích phát triển mạng xã hội có nền tảng công nghệ trong nước, khuyến khích các cơ quan, tổ chức xây dựng mạng xã hội nội bộ. Giải pháp về công cụ giúp quản lý, thu thập, phòng ngừa và cảnh báo; định lượng truy cập mạng xã hội làm căn cứ để đánh giá, xây dựng và thực hiện các chính sách quản lý nhà nước. Giải pháp về công cụ lọc giúp phát hiện tin giả, tin sai sự thật… từ đó chủ động ngăn chặn sự lan truyền, cảnh báo tin giả ngay từ khi xuất hiện trên mạng xã hội. Giải pháp về cơ chế phối hợp giữa các đơn vị quản lý và doanh nghiệp giúp vào việc ngăn chặn, gỡ bỏ các thông tin xấu độc trên internet, trực tiếp là mạng xã hội. Do đặc điểm “không có biên giới rõ ràng” của môi trường mạng xã hội cho nên cần có phối hợp giữa Chính phủ Việt Nam với chính phủ các nước và các định chế quốc tế, các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội lớn từ nước ngoài như Facebook, Google, Twitter để kịp thời ngăn chặn, xử lý, loại trừ những nguy cơ, hiểm họa có thể xảy ra.
          Bốn là, xây dựng và nâng cao khả năng đấu tranh của lực lượng nòng cốt chuyên sâu, bởi căn cốt của vấn đề là vai trò của con người, và đây là lực lượng quan trọng đặc biệt, là yếu tố quyết định hiệu quả phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên internet. Vì thế, mỗi công dân, nhất là cán bộ, đảng viên, cần thường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất và năng lực toàn diện; có kiến thức chuyên môn cao khi khai thác, sử dụng internet; có năng lực tư duy phản biện với khả năng diễn đạt, luận chiến tốt; nhiệt huyết và dũng khí, quyết tâm bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Như vậy, cần đa dạng hóa hình thức và phương pháp đấu tranh theo hướng: thiết lập và sử dụng các website, blog, diễn đàn, đăng tải những bài viết sâu sắc về lý luận - thực tiễn; chủ động cung cấp thông tin, phối hợp các cơ quan báo chí để viết bài đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên internet, trực tiếp là mạng xã hội… Qua đó, vừa vô hiệu hóa các trang mạng “độc hại”, vừa góp phần hướng dẫn dư luận xã hội.
         
 
 

Trong đó: Thu nội địa ước đạt 2.753,3 tỷ đồng; thu hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 2.520 tỷ đồng.
Trong đó chi đầu tư PT: 1.396,6 tỷ đồng, đạt 229% dự toán; chi thường xuyên: 940,4 tỷ đồng đạt 116% dự toán.
 
 
Video
Thống kê truy cập
Đang online17
Tất cả636032